4. Có hình dạng xinh xắn, vì những người con của Thượng Đế đều tỏa sáng, rạng ngời, và đầy sự mỹ lệ,
4. Goodly to behold, for the sons of God are luminous, radiant and full of beauty,
5. Hoan hỉ trong tình thương, vì tình thương là đặc trưng của linh hồn, và tất cả những người con của Thượng Đế, hay là con của Trí tuệ đều hiển lộ tình thương của Đấng Cha lành,
5. Delighting in love, for love is the characteristic of the soul, and all sons of God, or sons of Mind reveal the love of the Father,
6. Có những thể riêng của mình “không do cha mẹ sinh ra.” Thể ấy “không do người tạo ra, mà vĩnh cửu trong cõi thiêng liêng” như Thánh Paul đã nói.
6. Possessing bodies of their own “not caused by parents,” that body “not made by hands, eternal in the heavens” mentioned by St. Paul.
Nói về cảnh giới thứ tư, Vyasa cho biết rằng đó là thế giới của sự tự chủ. Vì thế, nó là gia hương của các Chân sư và tất cả những linh hồn đã giải thoát. Họ dùng “thực phẩm là sự chiêm ngưỡng.” Họ sống “qua muôn ngàn thời kỳ lâm phàm,” vì họ vốn bất tử.
In connection with the fourth world, Vyasa notes that it is the world of mastery, therefore the home of the Masters, and all liberated souls whose “food is contemplation” and whose lives are “for a thousand mundane periods,” therefore who have immortality.
Rồi ông mô tả ba cảnh giới cao nhất. Ở đó có những đấng cao cả mà chúng ta “sống, di chuyển, và hiện tồn” trong các ngài. Các cảnh giới này tương ứng cảnh giới của Ba Ngôi. Và nói về các đấng này trong những nhóm khác nhau, ông có những lời nhận xét sáng tỏ sau đây:
Then he describes the three highest planes, with the great existences who are the lives of those planes and in whom we “live and move and have our being.” These correspond to the three planes of the Trinity and of these existences in their various groups, the following comments by Vyasa are illuminating. He states:
1. “Cuộc đời của các ngài rất thánh khiết,” tức là không còn những gì bất tịnh, hay sự hạn chế của các hạ thể.
1. “Their lives are chaste,” i. e., free from impurity, or the limitations of the lower forms.
2. “Hướng lên trên, tư duy của các ngài không thấy có điều gì khó khăn, và ở các cõi dưới chẳng có vấn đề gì các ngài khó hiểu.” Các ngài biết hết mọi sự trong thái dương hệ này.
2. “Upwards there is no impediment to their thinking and in regions below there is no object obscure to their thought.” They know all things within the solar system.
3. “Các ngài vốn vô trụ,” thế nên không dùng những thể thô thiển.
3. “By them no laying down of foundations for a dwelling is made,” therefore they have no dense bodies.
4. “Các ngài vốn tự tại . . . và cùng sống với những thời kỳ sáng tạo.” Các ngài là những đấng cao cả ẩn trong toàn bộ cuộc sống hữu tình.
4. “They are grounded in themselves… and live as long as there are creations.” They are the great lives back of all sentient existence.
