mà mỗi người đã biết ở cõi trần.
objective and which has been known by the thinker upon the physical plane.
2. Những hình ảnh trí-cảm (thuộc hạ trí-dục vọng) về những ham muốn đã qua và sự thỏa mãn chúng. “Khả năng tạo hình ảnh” của người bình thường, vốn dựa vào ước vọng của y và sự thỏa mãn ước vọng đó. Tức là những nguyện vọng cao thượng hoặc ham muốn thấp hèn, có tính cách nâng cao hay đồi trụy, nói theo ý nghĩa hạ thấp nhân cách. Ví dụ như điều này cũng đúng với trí nhớ của kẻ tham ăn uống, có ẩn chứa hình ảnh bữa dạ tiệc linh đình. Hoặc cũng đúng với trí nhớ của vị thánh trong chính thống giáo khi vị đó hình dung một cõi thiên đường phúc lạc.
2. Kama-manasic (or desire-lower mind) images of past desires and their gratification. The “picture making faculty” of the average man is based upon his desires (high or low desires, aspirational or degrading, in its sense of pulling down) and their known gratification. This remains equally true of the memory of a gluttonous man, for instance, and his latent image of a satisfactory dinner, and the memory of the orthodox saint, based upon his picture making of a joyous heaven.
3. Hoạt động của trí nhớ do việc rèn luyện trí tuệ, do tích lũy những sự kiện đã thu thập, hoặc do kết quả của việc đọc sách hay giảng dạy. Loại trí nhớ này không hoàn toàn dựa vào những điều ham muốn, mà là do sự quan tâm, hứng thú của trí năng.
3. That memory activity which is the result of mental training, the accumulation of acquired facts, the consequence of reading or of teaching, and which is not purely based upon desire, but which has its basis in intellectual interest.
4. Mọi loại giao tiếp mà trí nhớ ghi nhận là xuất phát từ cảm thức của năm giác quan cấp thấp.
4. All the various contacts which the memory holds and recognises as emanating from the five lower sense perceptions.
5. Những hình ảnh của thể trí, tiềm ẩn trong năng lực tạo ký ức, là toàn bộ kiến thức đã thu thập, và những nhận thức có được khi sử dụng thể trí đúng đắn với tính cách giác quan thứ sáu.
5. Those mental images, latent in the memory making faculty, which are the total of the knowledge contacted and the realisations evoked by the right use of the mind as a sixth sense.
Hành giả cần buông bỏ tất cả các dạng năng lực ký ức này và không còn bám chấp vào chúng. Y cần nhận biết chúng là biến thái của cái trí, của nguyên khí tư duy. Vì thế, chúng là thành phần của bản chất trí-cảm thường thay đổi mà nhà yogi cần phải chế ngự trước khi y có thể vượt qua giới hạn và thoát khỏi mọi hoạt động của hạ thể. Đây là mục tiêu của y.
All these forms of the memory faculty have to be dropped and no longer held; they must be recognised as modifications of the mind, of the thinking principle, and therefore as part of that versatile psychic nature which has to be dominated before the yogi can hope to attain liberation from limitation and from all lower activity. This is the goal.
