User Tools

Site Tools


books:24books:the_light_of_the_soul:los_116


13. Ngày nào các căn (hay là samskara) vẫn còn tồn tại, thì quả của chúng sẽ là sự sinh ra, đời sống và các kinh nghiệm mang lại vui sướng hay đau khổ.

13. So long as the roots (or samskaras) exist, their fruition will be birth, life, and experiences resulting in pleasure or pain.

14. Các chủng tử (hoặc samskara) này tạo ra sự vui sướng hay đau khổ tùy theo nguyên nhân phát khởi của chúng là thiện hay ác.

14. These seeds (or samskaras) produce pleasure or pain according as their originating cause was good or evil.

15. Đối với người đã khai ngộ, toàn bộ cuộc sống (trong tam giới) bị xem là đau khổ do tác động của các guna. Những tác động này có ba loại, tạo nên hậu quả, sự âu lo và những ấn tượng trong tiềm thức.

15. To the illuminated man all existence (in the three worlds) is considered pain owing to the activities of the gunas. These activities are threefold, producing consequences, anxieties and subliminal impressions.

16. Có thể tránh được sự đau khổ chưa đến.

16. Pain which is yet to come may be warded off.

17. Phải phòng tránh ảo tưởng cho rằng Người nhận thức và điều được nhận thức là một và như nhau. Đó vốn là nguyên nhân (của những hậu quả gây đau khổ).

17. The illusion that the Perceiver and that which is perceived are one and the same is the cause (of the pain- producing effects) which must be warded off.

18. Cái được nhận thức có ba đặc tính, sattva, rajas và tamas (tiết điệu, năng động và trì trệ). Nó bao gồm các nguyên tố và các giác quan. Việc sử dụng những thứ này mang lại kinh nghiệm và sự giải thoát chung cuộc.

18. That which is perceived has three qualities, sattva, rajas and tamas (rhythm, mobility and inertia); it consists of the elements and the sense organs. The use of these produces experience and eventual liberation.

19. Các guna (hay các đặc tính của vật chất) được chia làm bốn loại: cái cụ thể, cái không cụ thể, cái được chỉ thị và cái không thể tiếp xúc.

19. The divisions of the gunas (or qualities of matter) are fourfold; the specific, the non-specific, the indicated and the untouchable.

20. Người tri kiến là cái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.

20. The seer is pure knowledge (gnosis). Though pure, he looks upon the presented idea through the medium of the mind.

21. Cả vạn hữu là để dành cho linh hồn.

21. All that is exists for the sake of the soul.

22. Đối với người đã thành đạt khoa yoga (hay hợp nhất) vũ trụ khách quan không còn nữa. Thế nhưng nó vẫn còn hiện hữu đối với những người chưa được tự do.

22. In the case of the man who has achieved yoga (or union) the objective universe has ceased to be. Yet it existeth still for those who are not yet free.

23. Kết hợp linh hồn với thể trí và từ đó kết hợp với những gì mà thể trí nhận thức được, giúp hành giả thấu hiểu thực chất của điều được nhận thức cũng như bản tính của Người nhận thức.

23. The association of the soul with the mind and thus with that which the mind perceives, produces an understanding of the nature of that which is perceived and likewise of the Perceiver.

24. Nguyên nhân của sự kết hợp nói trên là vô minh hay thiếu minh triết. Tình trạng này cần được khắc phục.

24. The cause of this association is ignorance or avidya. This has to be overcome.

25. Khi hành giả xóa tan vô minh vì không còn gắn bó với những điều mà y nhận thức, thì đó là đại giải thoát.

25. When ignorance is brought to an end through non-association with the things perceived, this is the great liberation.

26. Hành giả thoát khỏi tình trạng bị giam cầm, ràng buộc nhờ phân biện một cách thường xuyên và sáng suốt.

26. The state of bondage is overcome through perfectly maintained discrimination.

books/24books/the_light_of_the_soul/los_116.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki