1. Hành giả trở nên linh hoạt trong bản tính tinh thần,
1. The man is polarized in his spiritual nature,
2. Y tự biết mình và hoạt động với tư cách linh hồn, Đấng Christ,
2. He recognizes himself and functions as the soul, the Christ,
3. Chitta hay trí tuệ chất của y ở trạng thái yên lặng,
3. He has the chitta or mind stuff in a state of quiescence,
4. Sutratma hay sinh mệnh tuyến đang hoạt động đầy đủ và các hạ thể được chỉnh hợp trên tuyến này, tạo nên một đường truyền thông trực tiếp với não bộ trong thân xác,
4. The sutratma or thread is functioning adequately and the lower bodies are aligned upon it, producing a direct channel of communication with the physical brain,
5. Bộ não được huấn luyện để chỉ đóng vai trò chiếc máy thu các ấn tượng chân thực một cách bén nhạy,
5. The brain is trained to serve only as a delicate receiver of truth impressions,
6. Con mắt thứ ba đang trong tiến trình khai mở. Về sau, khi các luân xa được khơi hoạt với sự kiểm soát hữu thức, chúng giúp hành giả giao tiếp với các loại năng lượng thất phân khác nhau trong bảy cảnh giới của thái dương hệ. Nhờ khả năng nhận thức chân lý đã phát triển, hành giả có thể tránh khỏi sai lầm và những điều nguy hiểm.
6. The third eye is in process of unfoldment. Later, as the centres are awakened and brought into conscious control, they place the man en rapport with the various energy septenates in the seven planes of the system, and because the truth-perceiving faculty is developed, the man is thereby safeguarded from error and from danger.
Điều nói trên đã được Charles Johnston bàn rất rõ ràng, thỏa đáng trong phần luận giải của ông về câu này như sau:
This has been very clearly and ably stated by Charles Johnston in his commentary on this sutra as follows:
“Có thể nói, mỗi trạng thái hay phạm vi của cái trí, mỗi lĩnh vực hiểu biết được đạt đến nhờ trí năng và tình cảm, đều là một trạng thái nội tâm. Giống như hình ảnh trong trí về một sân khấu trên đó có các diễn viên, là một trạng thái hay một phạm vi ở nội tâm. Khi tri kiến thuần khiết, như của thi sĩ, triết gia, vị thánh, . . . chan chứa trong phạm vi đó, thì tất cả những điều thấp kém hơn bị loại ra. Tâm thức cao siêu này thay thế toàn bộ tâm thức thấp thỏi. Thế nhưng, trong một ý nghĩa nào đó, điều được thấy như một thành phần, dù với nhãn quan của nhà hiền triết, vẫn còn có yếu tố ảo tưởng, một lớp màn mong manh ở nội tâm, dù là một bức màn thanh khiết và chói rạng đến đâu. Đó là trạng thái nội tâm sau cùng và cao nhất.”
“Each state or field of the mind, each field of knowledge, so to speak, which is reached by mental and emotional energies, is a psychical state, just as the mind picture of a stage with the actors on it, is a psychical state or field. When the pure vision, as of the poet, the philosopher, the saint, fills the whole field, all lesser views and visions are crowded out. This high consciousness displaces all lesser consciousness. Yet, in a certain sense, that which is viewed as part, even by the vision of a sage, has still an element of illusion, a thin psychical veil, however pure and luminous that veil may be. It is the last and highest psychic state.”
