mọi hình tướng, và tự đồng nhất với cái vô sắc tướng.
from all forms, and in identifying himself with the formless.
Y đã đến tâm điểm sự sống của mình. Từ tâm điểm nhận thức tinh thần thuần khiết này, y có thể làm việc với khả năng ngày càng tăng mãi mãi về sau. Qua thực hành, y tăng cường nhận thức đó, và trọn cả đời sống, công việc và những tình huống đều được xem như các hoạt cảnh thoáng qua mà y chẳng bận tâm. Tuy nhiên, y có thể chiếu rọi chúng với ánh sáng tinh thần thuần khiết. Y là ánh sáng đó và biết mình là một thành phần trong “Ánh sáng của Thế giới,” và “trong ánh sáng đó y sẽ thấy được ánh sáng cao siêu hơn.” Y biết được thực tính của sự vật và nhận ra rằng tất cả những gì mà từ trước đến nay được xem là thực tế thì chỉ là ảo tưởng. Y đã nhìn xuyên qua đại Ảo ảnh, và thấy bên trong có cái ánh sáng vốn tạo ra nó, để từ đó về sau y không còn nhầm lẫn. Y có ý thức đúng về giá trị, và ý thức chính xác về sự cân đối tỉ lệ. Y không còn bị lừa gạt, hoàn toàn thoát khỏi những gì giả trá. Đến trình độ này, hành giả không còn bị ảnh hưởng bởi sự vui sướng và khổ đau. Y chìm trong chân phúc của sự Tự thức.
He has arrived at the point at the heart of his being. From that point of pure spiritual realisation, he can increasingly work in the future. Through practice, he strengthens that realisation, and all life, work and circumstances are viewed as a passing pageant with which he is not concerned. Upon them, however, he can turn the searchlight of pure spirit; he himself is light and knows himself as part of the “Light of the World,” and “in that light shall he see light.” He knows things as they are and realizes that all which he has hitherto regarded as reality is but illusion. He has pierced the great Maya and passed behind it into the light which produces it and for him mistake is in the future impossible; his sense of values is correct; his sense of proportion is exact. He no longer is subject to deception but stands freed from delusion. When this point is realized, pain and pleasure no longer affect him; he is lost in the bliss of Self-Realization.
48. Nay hành giả nhận thức hoàn toàn chính xác, (hay là, trí y chỉ hiển lộ Sự thật).
48. His perception is now unfailingly exact, (or, his mind reveals only the Truth).
Cả hai cách hiểu đều được đưa ra ở đây, vì chừng như cả hai bổ túc cho nhau để có ý tưởng đúng thực hơn là mỗi bản dịch riêng rẽ. Từ “chính xác” được dùng theo ý nghĩa huyền môn và chỉ về cách nhìn của Người nhận thức đối với tất cả các hiện tượng. Cần “biết chính xác” thế giới ảo tưởng và thế giới của sắc tướng.
Both translations are here given, as they seem to give together a truer idea than either does alone. The word “exact” is used in its occult sense and deals with the outlook of the Perceiver upon all phenomena. The world of illusion, or the world of form must be “exactly known.” This means, literally, that the relation of every form to
