cao nhất trong ba guna (hay là các đặc tính của vật chất) nói trên, hành giả mới biết được cái cao siêu nhất hay là trạng thái tinh thần. Khi đặc tính rajas nổi bật, trạng thái thứ hai biểu lộ. Khi đặc tính tamas ngự trị, người ta chỉ còn biết đến trạng thái thấp nhất. Có sự tương đồng thú vị giữa trạng thái tịnh (hay tamas) của vật chất và tình trạng các thể của nhà yogi khi vị này ở trong trạng thái samadhi cao siêu nhất. Bấy giờ chuyển động sattva hay tiết điệu nhịp nhàng trở nên hoàn hảo đến đỗi theo cái thấy của người bình thường đó chỉ là tình trạng yên lặng. Thực ra, đó chính là sự thăng hoa của tình trạng tamas hay trì trệ của chất liệu thô trược nhất.
the highest of the three gunas (or qualities of matter) is the highest or spiritual aspect known. Only as rajascontrols is the second aspect known; only as tamas holds sway is the lowest aspect known. There is an interesting analogy between the inertia (or tamas) aspect of matter and the condition of the bodies of the yogi when in the highest samadhi. Then the sattvic or rhythmic motion is so complete that to the eye of the average man a condition of quiescence is achieved which is the sublimation of the tamasic or inert condition of the densest substance.
Những dòng sau đây trích từ phần luận giải trong bản dịch của Woods về các câu kinh sẽ rất hữu ích:
The following words from the commentary dealt with in Woods' translation of the sutras will be found helpful:
“Khi không còn bị che án bởi sự nhơ bợn, đặc tính sattva của chất liệu tư duy, cốt yếu là ánh sáng, lưu chuyển một cách sáng tỏ, liên tục, không còn bị tràn ngập bởi rajas và tamas. Đây là sự trong sáng. Khi sự trong sáng phát sinh trong trạng thái thăng bằng quán tưởng cao siêu, nhà yogi đạt (điều gọi là) sự bình an nội tâm không hề xao động, và thấy được tia chớp (sputa) thấu ngộ. Tia chớp này không liên tục xuyên qua trình tự của các diễn tiến kinh nghiệm thông thường. Thực tính của nó hàm chứa mục tiêu đã định . . . Sự nhơ bợn là rajas và tamas tích tụ. Đó cũng là sự thô trược với đặc trưng che án. Có sự trong sáng khi không còn tình trạng này.” (Tr. 93.)
“When freed from obscuration by impurity, the sattva of the thinking-substance, the essence of which is light, has pellucid steady flow not overwhelmed by the rajas and the tamas. This is the clearness. When this clearness arises in the super reflective balanced-state then the yogin gains the internal undisturbed calm (that is to say), the vision of the flash (sputa) of insight which does not pass successively through the serial order (of the usual processes of experience) and which has as its intended object the thing as it really is . . . Impurity is an accretion of rajas and tamas. And it is the defilement which has the distinguishing characteristic of obscuration. Clearness is freed from this.” (P. 93.)
Qua nghiêm trì giới luật, theo đúng các phương tiện của yoga, và bền lòng tham thiền, hành giả đã thành công trong việc buông xả
The man has succeeded (through discipline, through following the means of yoga, and through perseverance in meditation) in dissociating himself
