điều mà y đang tham thiền. Bấy giờ y sẽ hiểu được bản tính của chính người suy tưởng là tinh thần thuần khiết. Bấy giờ y không còn bận tâm đến những bước, những giai đoạn, đối tượng, chủng tử, cơ quan, hình hài sắc tướng (dù tinh tế hay thô kệch) và chỉ biết có tinh thần. Y vượt cao hơn cả xúc cảm và trí năng và chỉ còn thấy chính Thượng Đế. Y không còn cảm nhận các rung động thấp kém. Y không còn thấy màu sắc, chỉ biết ánh sáng. Linh ảnh mờ đi, và y chỉ nghe âm thanh hoặc linh từ. Chỉ còn “con mắt của Shiva” và người tri kiến tự đồng nhất với cái thấy thiêng liêng này.
he is meditating. Then the nature of the thinker himself, as pure spirit, will be apprehended, and the steps, stages, objects, seeds, organs, forms (subtle or gross) will all be lost sight of and only spirit be known. Both feeling and mind will then be transcended and only God Himself be seen; the lower vibrations will no longer be sensed; colour will no longer be seen; only light will be known; vision will be lost sight of, and the sound or word will alone be heard. The “eye of Shiva” will be left and with that the seer will identify himself.
Bốn sự giải trừ kể trên là bốn giai đoạn nhận thức − những giai đoạn đưa hành giả ra khỏi thế giới sắc tướng, đi vào lĩnh vực vô sắc tướng. Điều thú vị là so sánh bốn giai đoạn diễn tiến của “tham thiền hữu chủng”, với bốn giai đoạn nói trên. Cũng có thể nói thêm rằng trong bất cứ lối thiền nào còn nhận biết tâm thức, thì tất có đối tượng. Trong một lối thiền mà người nhận thức còn biết cái được thấy, thì tất có tình trạng nhận thức về hình tướng. Chỉ khi nào toàn bộ hình tướng và chính phạm vi hiểu biết đều mờ đi, và người tri thức tự biết chân tính của mình (đắm chìm trong sự chiêm ngưỡng bản tính tinh thần thuần khiết của mình), bấy giờ y mới có thể đạt đến tâm thái thiền lý tưởng, vô sắc tướng, vô chủng, không đối tượng. Đến mức này, cả ngôn ngữ của huyền bí gia và thần bí gia đều không còn sử dụng được, vì ngôn ngữ chỉ bàn về cái khách quan ngoại tại và sự liên hệ của nó với tinh thần. Thế nên, tâm thái thiền cao siêu này tương tự như tình trạng ngủ yên hay xuất thần, nhưng tương phản với sự ngủ yên của thân xác hay sự xuất thần của người đồng tử.
In the above fourfold elimination, the stages of realization are hinted at—those stages which lead a man out of the world of form into the realm of the formless. Students will find it interesting to compare the four stages whereby “seeded meditation” progresses, with the four above. It might be pointed out also that in any meditation wherein consciousness is recognized, then an object is present; in any meditation wherein the perceiver is aware of that which is to be seen, then there is as yet a condition of form perception. Only when all forms and the fieldof knowledge itself are lost sight of, and the knower recognizes himself for what he essentially is (being lost in contemplation of his own pure spiritual nature), can ideal, formless, seedless, objectless meditation be arrived at. It is here that the language of the occultist and mystic both fail, for language deals with objectivity and its relation to spirit. Therefore this higher condition of meditation is likened to a sleep or trance condition,
