đều có tầm quan trọng thực sự. Các Ngài có thể theo đuổi các chí hướng bình thường của các Ngài trên cõi trần (nếu hoạt động trong thể xác), và khi làm như thế, các Ngài bị chi phối trong việc thực hiện các hoạt động đó bởi các giới hạn về ý thức thời gian và ý thức không gian của não bộ. Nhưng các Ngài cũng có thể hoạt động trên cõi trí với chitta hay chất trí, và có thể làm điều này đồng thời khi các Ngài bị chi phối và bị giới hạn bởi bộ máy xác thân của các Ngài. Lúc bấy giờ các Ngài hoàn toàn thoát khỏi ý thức về thời gian và khỏi bất cứ các giới hạn nào như các mối quan hệ về không gian bên trong thái dương hệ.
of real import. They can pursue their normal avocations upon the physical plane (if functioning in physical bodies) and when so doing are conditioned in the performance of those activities by the brain limitations of time consciousness and space consciousness. But they can also work upon the mental plane with the chitta or mind stuff, and can do this at the same time as they are conditioned and limited by their physical mechanism. They are then entirely freed from the time consciousness and from any such limitations as space relations within the solar system.
2. Tập trung sự an trụ (polarisation) của các Ngài trên cõi trí, và các Ngài hoạt động ở đó như các con của thể trí hay của manas. Cách thức giao tiếp bình thường của các Ngài là qua trung gian của sự hiểu biết viễn cảm. Đây là kỹ thuật bình thường của một trí tinh quân (manasaputra) thiêng liêng và tự do.
2. The focus of their polarisation is on the mental plane and they function there as sons of mind or of manas. Their normal mode of intercourse is through the medium of telepathic understanding. This is the normal technique of a divine and free manasaputra.
Đây là tất cả những gì có thể được làm cho khả hữu khi một người đã tự an trụ vào linh hồn thức, khi hoa sen chân ngã đang khai mở, và do đó, khi phương pháp hoạt động trí tuệ là phương pháp của mối quan hệ trí tuệ hay viễn cảm (telepathy).
This is all made possible when a human being has polarised himself in the soul consciousness, when the egoic lotus is unfolding and when, therefore, the mental method of working is that of mental relationship or telepathy.
Trước đây tôi có nói với bạn rằng khi nhân loại ngày càng đạt đến sự an trụ trí tuệ nhờ năng lực thu hút đang phát triển của nguyên khí trí tuệ, việc sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt tư tưởng giữa những người ngang tài ngang sức, hay của việc giao tiếp với các cấp trên sẽ không được dùng đến. Nó sẽ tiếp tục được dùng khi tiếp xúc với quần chúng và những ai không hoạt động trên cõi trí. Lời cầu nguyện, đạo tâm và lòng sùng kính không có tiếng đã được xem như có giá trị cao hơn so với những lời cầu xin và các lời công bố biểu lộ thành tiếng. Chính ở giai đoạn khai mở này của nhân loại mà việc chuẩn bị cho điều đó phải được thực hiện, và các qui tắc, các kỹ thuật và các tiến trình giao tiếp viễn cảm phải được làm cho rõ ràng, sao cho chúng có thể được hiểu một cách sáng suốt và về mặt lý thuyết. Phương pháp giao tiếp giữa các thành viên của Thánh Đoàn là một tiến trình có mười phần, và chỉ trong sự đóng góp của mười
I earlier told you that, as the race achieves increasingly a mental polarisation through the developing attractive power of the mental principle, the use of language for the conveying of thoughts between equals or of communicating with superiors will fall into disuse. It will continue to be used in reaching the masses and those not functioning on the plane of mind. Already voiceless prayer and aspiration and worship are deemed of higher value than the pleadings and proclamations of voiced expression. It is for this stage in the unfoldment of the race for which preparation must be made, and the laws, techniques and processes of telepathic communication must be made plain so that they can be intelligently and theoretically understood. The method of communication between members of the Hierarchy is a tenfold process, and only in the contribution of the ten
