không có chút tình cảm, nhưng về mặt trí tuệ, họ bị thuyết phục rằng một số đường lối hoạt động phải được tuân theo, đưa đến sự tốt lành cá nhân của riêng họ, nhưng mà – trong thời gian dài – không tốt lành cho người dân có liên quan.
no way emotional but who are mentally convinced that certain lines of activity must be followed, leading to their own individual good but which—in the long run—are not good for the peoples involved.
Do đó chúng ta trở lại những vấn đề của cõi cảm dục, của mức độ tình cảm của tâm thức, và đối với cuộc điểm đạo thứ hai; cuộc điểm đạo này giải thoát con người khỏi sự kiềm chế của tình cảm và cho phép họ chuyển tâm thức của họ lên trên các phân cảnh trí tuệ, và từ điểm tập trung cao đó, kiểm soát các thái độ tình cảm bình thường và rất phát triển của họ.
We therefore come back to the problems of the astral plane, of the emotional level of consciousness, and to the second initiation; this initiation releases men from emotional control and enables them to shift their consciousness on to mental levels, and from that higher point of focus to control their normal and well developed emotional attitudes.
Nếu bạn lật lại trang 340, bạn sẽ thấy rằng ba chủ âm (keynotes) được đưa ra cho cuộc điểm đạo thứ hai này và cho kỹ thuật của nó. Tôi muốn kêu gọi bạn chú ý đến chúng bởi vì chúng trình bày chủ âm vốn cung cấp cho chúng ta manh mối cho các vấn đề thế giới, và đồng thời đưa ra giải pháp và cách thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay. Ba từ này là: Sự Hiến Dâng (Dedication), Ảo Cảm (Glamour), Sự Tận Tụy (Devotion).
If you will turn back to page 340, you will find that the three keynotes are given for this second initiation and for its technique. I would like to call your attention to them because they present those keynotes which give us the clue to the world problems and indicate at the same time the solution and the way out of the present impasse. These three words are: Dedication. Glamour. Devotion.
Chính sự hiến dâng của người tìm đạo mới khơi lên ngọn lửa. Ở đây bạn có một phát biểu rất quan trọng. Người tìm đạo ở trên các phân cảnh cao của cõi cảm dục được cuốn bởi “ngọn lửa hiến dâng”. Điều này tập trung ngay tức thì ý chí của y khi nó thể hiện trên cõi trí, và việc tập trung vào đúng thời điểm sẽ bắt đầu công việc hệ trọng là chuyển tâm thức của y lên tới các phân cảnh trí tuệ. Lúc đó, ngay lập tức “luồng hỏa” (“fire”) hoạt động, và phản ứng đầu tiên (như Tôi đã nêu ra trước đây) là “việc gặp gỡ của lửa và nước”, và tất nhiên tạo ra sương mù, sương muối, của ảo cảm và ảo tưởng. Tất cả bốn từ này phải được hiểu một cách tượng trưng. Các ảo cảm được tạo ra như thế tùy thuộc vào cung và mức độ tiến hóa của cá nhân và quốc gia. Điều cốt yếu là bạn học cách suy tư theo các phạm vi rộng nhất có thể. Tôi sẽ không bàn đến các việc này. Các cá nhân đang nhanh chóng phát hiện ra bản chất các ảo cảm của họ, một khi “ý định tâm linh” của họ được xác định; ngoài ra, ảo cảm quốc gia được nhận thức rõ bởi những kẻ bàng quan, mặc dù ít khi được hiểu rõ bởi các quốc gia có liên quan. Nhân tố dẫn đến việc xua tan ảo cảm là sự tận tâm – sự tận tâm với một
It is the dedication of the aspirant which invokes the fire. You have here a statement of major importance. The aspirant upon the higher levels of the astral plane is swept by the “fire of dedication.” This immediately focusses his will as it demonstrates on the mental plane, and this focussing in due time starts the serious undertaking of the shifting of his consciousness on to mental levels. Then immediately the “fire” works, and the first reaction (as I have earlier pointed out) is the “meeting of fire and water,” and consequently the production of fog, mist, of glamour and illusion. All of these four words must be understood symbolically. The glamours thus induced are dependent upon the ray and the point of evolution of the individual and the nation. It is essential that you learn to think in the widest possible terms. With these I shall not deal. Individuals are rapidly discovering the nature of their glamours, once their “spiritual intention” is determined; also national glamour is well recognised by onlookers, though seldom yet by the nations involved. The factor which leads to the dissipation of glamour is devotion—devotion to an
