5. Về cơ bản đó là năng lượng mạnh nhất vào lúc này trong hành tinh, bởi vì nó đã được đưa đến sự trưởng thành trong thái dương hệ thứ nhất, là thái dương hệ của sự thông tuệ linh hoạt.
5. It is fundamentally the most potent energy at this time in the planet, because it was brought to maturity in the first solar system, that of active intelligence.
6. Đó là năng lượng vốn kết nạp nhân loại (và nhất là đệ tử lão luyện hoặc điểm đạo đồ) vào các bí pháp của chính Thiên Trí. Đó là chìa khóa “trọng yếu” (“substantial”) đưa đến Toàn Linh Trí.
6. It is the energy which admits humanity (and particularly the trained disciple or initiate) into the mysteries of the Mind of God Himself. It is the “substantial” key to the Universal Mind.
7. Nó nhạy cảm một cách sâu sắc với năng lượng của Bác Ái–Minh Triết, và sự dung hợp của nó với trạng thái bác ái được chúng ta đặt tên là “minh triết” (“wisdom”), bởi vì mọi minh triết đều là tri thức có được nhờ kinh nghiệm và được bổ sung bởi bác ái (love).
7. It is profoundly susceptible to the energy of Love-Wisdom, and its fusion with the love aspect is given the name of “wisdom” by us, because all wisdom is knowledge gained by experience and implemented by love.
8. Trong ba trạng thái của nó, năng lượng này có liên quan theo một ý nghĩa đặc biệt với ba Hoạt Động Phật. Các Các Đấng Cao Cả này đạt đến trạng thái phát triển hiện tại của các Ngài trong Thái Dương Hệ trước.
8. This energy, in its three aspects, is related in a peculiar sense to the three Buddhas of Activity. These great Lives reached Their present state of development in the previous solar system.
9. Năng lượng này, trong chừng mực nó được coi là năng lượng trí tuệ của một người – và đây là một trong các hạn chế nhỏ của nó, mặc dù đó là một hạn chế lớn đối với một người – là sự tương ứng cao của bộ não vật chất. Có thể nói rằng bộ não tồn tại vì thể trí tồn tại, và cần một bộ não như là điểm tập trung của nó trên cõi trần.
9. This energy, in so far as it is considered as the mental energy of a human being—and this is one of its minor limitations though a major one for a human being—is the higher correspondence of the physical brain. It might be said that the brain exists because the mind exists and needs a brain as its focal point upon the physical plane.
10. Tính chất của năng lượng về kiến thức hay khoa học cụ thể gồm có hai phần:
10. The quality of this energy of concrete knowledge or science is twofold:
a. Nó đáp ứng lạ thường với các ấn tượng đến từ một cội nguồn này hoặc cội nguồn khác.
a. It is extraordinarily responsive to impressions coming from some source or other.
b. Nó nhanh chóng bị đưa vào các hình tướng khi đáp ứng với ấn tượng.
b. It is rapidly thrown into forms in response to impression.
11. Những ấn tượng nhận được đến từ ba nguồn và liên tiếp được tiết lộ cho con người. Ba nguồn này là:
11. The impressions received come from three sources and are sequentially revealed to man. These three are:
a. Các ấn tượng từ ba cõi thấp, trước tiên, các ấn tượng này đến từ cá nhân và rồi, thứ hai, đến từ các mức độ tâm thức hành tinh.
a. Impressions from the three worlds; these come, first of all, from the individual and then, secondly, from the levels of planetary consciousness.
b. Những ấn tượng từ linh hồn, là Con của Trí, trên mức độ của chính trí năng (mentality, trí lực).
b. Impressions from the soul, the Son of Mind, upon the level of mentality itself.
c. Những ấn tượng từ Tam Thượng Thể Tinh Thần, xuyên qua antahkarana; các ấn tượng này đến khi antahkarana được kiến tạo hoặc đang trong tiến trình kiến tạo.
c. Impressions from the Spiritual Triad, via the antahkarana; these come when the antahkarana is constructed or in process of construction.
