có bản chất chủ quan (cung linh hồn khi nó chế ngự cung phàm ngã) mới hấp dẫn những gì còn chủ quan hơn nữa, đó là những gì thật sự hoàn thành được công việc. Cần nên nhớ rằng từ góc độ của Tam Thượng Thể Tinh Thần, bản chất linh hồn chắc chắn là có tính khách quan. Đây là một phát biểu về sự kiện huyền linh, vốn sẽ được hiểu rõ hơn khi bản chất của con người (như được dạy trong các môn học huyền bí) được thừa nhận bởi các nhà tư tưởng, nhà khoa học và nhà tâm lý học.
type of subjective nature (the soul ray as it dominates the personality ray) which makes appeal to that which is still more subjective; that is what in truth accomplishes the work. It should be borne in mind that from the angle of the Spiritual Triad the soul nature is definitely objective. This is a statement of occult fact which will be better understood when the nature of man (as taught in the occult sciences) is admitted by thinkers, scientists and psychologists.
Điểm mà Tôi muốn nói là không có từ đặc biệt nào sắp được Tôi đưa ra, bởi vì điều đó sẽ là vô ích. Thánh ngữ O.M. vốn vô ích đối với hầu hết con người, mặc dù các đạo sinh lão luyện bây giờ có thể rút ra được lợi ích từ việc sử dụng nó. Nguyên nhân của tính vô dụng phổ biến này không chỉ vì người ta không dùng Linh Từ một cách chính xác, mà còn vì ngay cả khi dùng nó, họ không duy trì ý nghĩa của nó một cách vững chắc trong tâm thức của họ. Với một Quyền-Lực-Từ thì cũng thế.Nó sẽ có ích lợi gì nếu Tôi cố đưa ra Linh Từ của Cung 1, nó có vẻ (khi được trình bày dưới hình thức viết mang tính biểu tượng của nó) một cái gì đó như thế này – UKRTAPKLSTI ? Một vài âm thanh trong hình thức-từ ngữ này bị bỏ qua vì không có cách miêu tả chúng, vì chúng không phải là nguyên âm mà cũng không phải là phụ âm. Được xướng lên một cách chính xác, từ ngữ trên tạo thành ba từ. Nhưng Tôi có thể đưa ra, trong chừng mực có thể, từ tiếng Anh tương đương trong ý nghĩa, và chính ý nghĩa này mà Tôi yêu cầu bạn hãy có trong trí khi bạn thốt ra bằng trí âm thanh hay Quyền-Lực-Từ và cố hinh dung để thấy nó thực hiện phép lạ huyền bí của việc kiến tạo cây cầu.
The point I wish to make is that no particular word is going to be given by me, because it would be useless. The O.M. is useless to most people, even though trained students may now be deriving benefit from its use. This general uselessness is caused not only because people do not use the Word correctly, but also because, even when using it they are not holding its significance firmly in their consciousness. So it is with a Word of Power. Of what use would it be if I attempted to give the Word of the first ray, which looks (when presented in its symbolic written form) something like this—UKRTAPKLSTI? Certain sounds in this word-form are omitted because there is no way of depicting them, since they are neither vowels nor consonants. Correctly sounded, the above forms three words. But I can give, as far as possible, the English equivalent in meaning, and it is this meaning which I ask you to have in mind as you mentally utter the sound or Word of Power and visually attempt to see it performing the esoteric miracle of bridge building.
Do đó, đệ tử cung 1 phải đáp ứng các yêu cầu với tất cả khả năng của mình và noi theo bốn giai đoạn của kỹ thuật phóng chiếu (các trang 489-493, 509). Khi y đã trung thực đi theo lộ trình được phác thảo này, sự dung hợp của phàm ngã với linh hồn phải được nỗ lực một cách hữu thức, và phải đạt được một mức độ nào đó, và bấy giờ những yếu tố pha trộn này được giữ ổn định trong ánh sáng của Tam Thượng Thể. Một điểm ý định có tập trung khác được mang lại bây giờ, kết quả là một sự nhất tâm mới mẻ và năng động hơn nữa. Trong sự im lặng được hoàn tất, đưa đến tác động phóng chiếu antahkarana được thực hiện,
The first ray disciple has, therefore, to meet the requirements to the best of his ability and to follow the four stages of the technique of projection (pages 489-493, 509). When he has faithfully followed this outlined routine, personality and soul fusion has to be consciously attempted and to some measure achieved, and then these blended factors are held steady in the triadal light. Another point of focussed intention is now brought about, resulting in a new and still more dynamic tension. In the completed silence which results, the act of projecting the antahkarana is performed,
