người ta hoàn toàn không nhận thức và hiểu biết, thậm chí đối với tâm thức của y vào những thời điểm cao nhất của y.
been totally unrealised and unknown, even to his consciousness at his highest moments.
Cửa điểm đạo hiện lù lù ra trong tâm thức của vị tân đệ-tử, Thánh Đạo cao cả là yếu tố quyết định trong kiếp sống của vị điểm đạo đồ ở đẳng cấp thứ ba. Đó là sự Biến Dung (Transfiguration); và một sự vinh quang mới tuôn đổ qua vị điểm đạo đồ đã được biến dung, vị này đã được giải thoát khỏi mọi loại kìm kẹp, hoặc bởi phàm-ngã, hoặc bởi linh hồn. Lần đầu tiên, mục tiêu của Thánh Đạo cao siêu và sự thành tựu Niết Bàn (theo cách gọi của Phương Đông) xuất hiện trước mặt y, và y biết rằng không sắc tướng nào, không phức cảm tâm linh nào, và không sự lôi kéo nào, hoặc của linh hồn, hoặc của sắc tướng, hoặc của cả hai hợp lại, có thể có bất kỳ tác động nào lên việc đạt tới điểm đến cuối cùng của y.
The door of initiation looms large in the consciousness of the neophyte; the higher Way is the determining factor in the life of the initiate of the third degree. It is the Transfiguration; and a new glory pours through the transfigured initiate who has been released from every type of grip by either the personality or the soul. For the first time, the goal of the higher Way and the attainment of Nirvana (as the Oriental calls it) appears before him, and he knows that no forms and no spiritual complexes and no pull by either soul or form, or by both united, can have any effect upon his attaining his final destination.
Tôi muốn đề cập trong chốc lát ở đây đến biểu tượng học về cánh cửa khi vị điểm đạo đồ bắt đầu hiểu rõ ý nghĩa bên trong của những thuật ngữ đơn giản này. Từ lâu, giáo huấn được đưa ra trong ánh sáng trong lạnh, liên quan đến cánh cửa, và việc nhấn mạnh được đặt vào cách trình bày về cánh cửa nằm phía trước của người tìm đạo, đã trở nên quen thuộc, nhưng điều đó đã đang hoạt động với các khía cạnh thấp của khoa biểu tượng, mặc dù những người tìm đạo đã không hiểu được điều đó, họ đã được dạy sự thật về ánh sáng trong đầu, vốn là sự tương ứng ở phàm-ngã với ánh sáng trong lạnh mà Tôi nói tới. Ngay tại trung tâm của ánh sáng đó, như nhiều người tìm đạo biết về mặt lý thuyết hoặc thực tế bởi sự trải nghiệm không thường xuyên, là một trung tâm hoặc điểm màu xanh chàm đậm, màu xanh lúc nửa đêm. Hãy lưu ý ý nghĩa của điều này xét theo những gì Tôi đã đang nói liên quan đến “đêm đen” (“dark night”), giờ nửa đêm, giờ số không (zero hour) trong sự sống của linh hồn. Thực ra, trung tâm đó là một chỗ mở (opening), một cửa dẫn đến nơi nào đó, một lối thoát, một nơi mà qua đó các linh hồn bị giam cầm trong thể xác có thể xuất hiện và đi vào các trạng thái cao của tâm thức, không bị ngăn cản bởi những giới hạn của hình tướng; nó cũng đã được gọi là “cái phễu hoặc con kênh cho âm thanh”, nó cũng đã được mệnh danh là “cái kèn mà qua đó thánh ngữ A.U.M. đang thoát ra có thể đi qua”. Khả năng sử dụng cửa hoặc con kênh này được mang lại bằng việc thực hành chỉnh hợp; vì vậy tầm quan trọng được đặt vào bài tập này trong nỗ lực huấn luyện những người tìm đạo và các đệ-tử.
I would like for a moment to refer here to the door symbology as the initiate begins to grasp the inner meaning of those simple words. For long the teaching, given in the clear cold light, anent the door and the emphasis put upon the presentation of the door lying ahead of the aspirant has been made familiar, but that has been working with the lower aspects of the symbolism, even if aspirants did not realise it; they have been taught the fact of the light in the head, which is the personality correspondence to the clear cold light to which I refer. At the very centre of that light, as many aspirants know theoretically or factually by inconstant experience, is a centre or point of dark indigo blue—midnight blue. Note the significance of this in view of what I have been saying anent the “dark night,” the midnight hour, the zero hour in the life of the soul. That centre is in reality an opening, a door leading somewhere, a way of escape, a place through which the soul imprisoned in the body can emerge and pass into higher states of consciousness, untrammelled by form limitations; it has also been called “the funnel or the channel for the sound”; it has been named the “trumpet through which the escaping A.U.M. can pass.” The ability to use this door or channel is brought about by the practice of alignment; hence the emphasis laid upon this exercise in the attempt to train aspirants and disciples.
Một khi đã đạt đến sự chỉnh hợp, người ta sẽ nhận thức
Once alignment has been achieved, it will be realised
