Sự toàn hiện của thiên tính trong mọi hình tướng tuôn đổ lên tâm thức của vị điểm đạo đồ, và cái bí ẩn của thời gian, không gian và điện có khả năng được tiết lộ. Tác động chủ yếu của sự mặc khải này (trước cuộc điểm đạo thứ ba) là mang đến cho vị đệ tử một nhận thức về “đại tà thuyết chia rẽ”, khi nó đang tập trung vào y, là cá nhân riêng biệt hoàn toàn hữu thức – biết về quá khứ của y, bây giờ nhận ra cung của y và sức mạnh chi phối của nó, được tập trung trong đạo tâm của chính y, và tuy vậy là một phần của tổng thể thiên nhiên vĩ đại. Từ thời điểm đó trở đi, y biết rằng thiên tính luôn luôn hiện hữu, và y học được điều này qua sự mặc khải về tính chia rẻ vốn có của sự sống sắc tướng, qua các diễn trình của “đêm đen của linh hồn”, và các bài học đỉnh cao của nó về ý nghĩa của sự cô lập và diễn trình giải thoát vốn đem lại sự hòa nhập vào nhất nguyên (unity) nhờ sự phát ra âm thanh, lời kêu gọi, lời khẩn cầu, chẳng hạn như lời kêu gọi của Đấng Christ trên Thập Giá đã tượng trưng. Những lời lẽ chính xác của Ngài đã không được truyền đạt cho chúng ta. Chúng thay đổi theo mỗi cung, nhưng tất cả đều mang lại sự nhận thức về sự hòa nhập thiêng liêng, trong đó mọi bức màn chia rẻ bị “xé rách từ trên xuống dưới” (như Kinh Tân Ước diễn tả).
The omnipresence of divinity within all forms pours in upon the consciousness of the initiate, and the mystery of time, space and electricity stands revealed. The major effect of this revelation (prior to the third initiation) is to bring to the disciple a realisation of the “great heresy of separateness,” as it focusses in him, the separated fully conscious individual—aware of his past, conscious now of his ray and its conditioning power, focussed in his own aspiration, and yet part of the great whole of nature. From that moment onward he knows that divinity is all there is, and this he learns through the revelation of the inherent separativeness of the form life, through the processes of “the dark night of the soul” and its culminating lesson of the significance of isolation and the freeing process which brings about the merging into unity through the emission of the sound, the cry, the invocation, such as the cry of the Christ upon the Cross symbolised. His exact words have not been transmitted to us. They vary for each ray, but all bring about the recognition of divine merging, in which all separating veils are “rent from the top to the bottom” (as The New Testament expresses it).
B. Sự toàn tri của Tổng Thể thiêng liêng cũng được điểm đạo đồ hiểu rõqua trung gian của ánh sáng trong lạnh; và các giai đoạn của “kinh nghiệm bị cô lập”, như nó đôi khi được gọi theo huyền môn, mãi mãi được chấm dứt. Tôi muốn bạn nhận thức được những gì mà điều này có thể hàm ý trong chừng mực có thể được đối với tâm thức hiện tại của bạn. Cho đến nay, đệ-tử được điểm đạo đã đang hoạt động như một nhị nguyên, và như một sự dung hợp năng lượng linh hồn với mãnh lực của phàm-ngã. Hiện giờ, về cơ bản, những hình thức này của sự sống vẫn bộc lộ cho y biết chúng dùng để làm gì, và y biết rằng – với tư cách các tác nhân chi phối và với tư cách các vị thần tạm thời (transitory gods) – chúng không còn có ảnh hưởng nào với y nữa. Y đang dần được chuyển sang một trạng thái thiêng liêng khác, mang theo y tất cả những gì y đã nhận trong các thời kỳ có liên hệ chặt chẽ và đồng nhất hóa với trạng thái thứ ba, là sắc tướng, và trạng thái thứ hai, là tâm thức. Một cảm giác bị lấy mất đi, bị bỏ rơi và đơn độc giáng lên y khi y nhận ra rằng sự kiểm soát của hình tướng và linh hồn cũng phải biến mất. Nơi đây có ẩn nỗi khổ
B. The omniscience of the divine Whole is also brought home to the initiate through the medium of the clear cold light, and the phases of “isolated experience,” as it is sometimes occultly called, is forever ended. I would have you realise what this can mean in so far as possible to your present consciousness. Up till the present, the initiate-disciple has been functioning as a duality and as a fusion of soul-energy and personality-force. Now these forms of life stand exposed to him for what they essentially are, and he knows that—as directing agencies and as transitory gods—they no longer have any hold over him. He is being gradually translated into another divine aspect, taking with him all that he has received during the ages of close relation and identification with the third aspect, form, and the second aspect, consciousness. A sense of being bereft, deserted and alone descends upon him as he realises that the control of form and soul must also disappear. Here lies the agony
