3. Sự áp dụng về mặt trí tuệ phải được hiểu và xem xét dưới hình thức của “ánh sáng vĩ đại”. Chúng ta phải nhớ rằng thể trí là cơ quan của sự giác ngộ. Do đó người ta có thể hỏi là: Liệu các tiến trình trí tuệ của tập thể được hợp nhất nói chung có xu hướng đưa ánh sáng vào các vấn đề và các tình trạng của con người hay không? Ánh sáng của từng thành viên trong nhóm giúp được bao nhiêu vào trong tiến trình này? Bạn, với tư cách một cá nhân, đăng ký bao nhiêu ánh sáng và do đó góp phần vào ánh sáng vĩ đại hơn? Liệu ánh sáng tập thể là một ánh sáng lập lòe lờ mờ, hay là một mặt trời chói sáng?
3. The mental application has to be grasped and considered in terms of the “great light.” It must be remembered that the mind is the organ of illumination. Therefore it might be asked: Do the united mental processes of the group as a whole tend to throw light on human problems and situations? How much does the light of the individual group member aid in this process? How much light do you, as an individual, register and therefore contribute to the greater light? Is the group light a dim flicker or a blazing sun?
Đó là một số các hàm ý nằm đằng sau việc sử dụng các từ ngữ quen thuộc này, và việc xem xét cẩn thận ý nghĩa của chúng có thể mang lại một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Sự mở rộng này thường theo sau một số giai đoạn rõ ràng và xác định:
Such are some of the implications lying behind the use of these familiar words, and the careful consideration of their meaning might bring about a definite expansion of consciousness. This expansion normally follows certain clear and definite stages:
1. Một sự nhận thức về mục tiêu. Mục tiêu này thường được thể hiện dưới từ ngữ “cánh cửa” (“the door”). Một cánh cửa cho phép việc đi vào một nơi nào đó lớn hơn diện tích của căn phòng mà vị điểm đạo đồ tương lai đang đứng. Cách diễn giải này ám chỉ đến “cửa luân hồi” mà qua đó linh hồn lâm phàm đi vào sự sống – bị hạn chế và giới hạn theo quan điểm của linh hồn. Cửa điểm đạo thu nhận “vào một căn phòng lớn hơn”, hay phạm vi biểu lộ được mở rộng.
1. A recognition of the goal. This goal is often expressed under the word “the door.” A door permits entrance into some place larger than the area covered by the standing room of the would-be initiate. This statement refers to the “door of incarnation” through which the incarnating soul enters into life—limited and restricted from the angle of the soul. The door of initiation admits “into a larger room” or sphere of extended expression.
2. Sự tiếp cận, dưới các quy luật được điều chỉnh, được áp đặt và đáng tin cậy, của một người đang đăng nhập hướng tới một mục tiêu mơ ước. Điều này bao hàm việc tuân theo những gì đã được thử nghiệm, được biết đến và được chứng minh bởi tất cả các điểm đạo đồ đi trước.
2. The approach, under regulated and imposed and well-tried rules, of the entering one towards a visioned goal. This involves conformity to that which has been tried, known and demonstrated by all previous initiates.
3. Việc ngăn lại các bước chân của vị điểm đạo đồ trước cánh cửa để cho y có thể “tự chứng tỏ mình là điểm đạo đồ” trước khi tiến vào.
3. The arresting of the steps of the initiate before the door in order that he may “prove himself to be initiate” prior to entry.
4. Việc vượt qua một số thử thách để chứng tỏ sự thích hợp.
4. The passing of certain tests in order to demonstrate fitness.
5. Kế đó đến giai đoạn tiến vào – dưới các quy luật thích đáng đã được thiết lập, và tuy thế với đầy đủ sự tự do hành động. Do đó, bạn sẽ thấy, tại sao nhu cầu về sự hiểu biết luôn luôn được nhấn mạnh.
5. Then comes the stage of entrance—under due and set rules and yet with full freedom of action. You will see, therefore, why ever the need for understanding is emphasised.
Trước khi tiến hành nghiên cứu các cụm từ cuối cùng của Quy Luật
Before proceeding to study the final phrases of Rule
