1. Việc duy trì sự tiếp xúc với Thánh Đoàn, mà sự tiếp xúc trực tiếp, hữu thức với linh hồn bây giờ là một việc bất ngờ, vì bây giờ đó là một thói quen.
1. The preservation of hierarchical contact, of which direct, conscious soul contact is now an incident because it is now a habit.
2. Một ý thức, liên tục và kiên định, về cương vị (place) ở Huyền Viện của y; Tôi không đề cập đến vị trí (location) mà là đến tình trạng (status) – một vấn đề khác hẳn.
2. An awareness, unbroken and consistent, of his ashramic place; I refer not to location but to status—a very different matter.
3. Định trí có suy tư về Thiên Cơ thuộc Thánh Đoàn (hierarchical Plan) khi Huyền Viện đặc biệt của y đã đảm nhận trách nhiệm về một giới hạn của nó; y tìm cách chia sẻ một cách sáng suốt và một cách hiệu quả trách nhiệm đó.
3. Reflective concentration upon the hierarchical Plan as his particular Ashram has assumed responsibility for a measure of it; that responsibility he seeks to share intelligently and effectively.
4. Nhận thức về sự đóng góp trực tiếp của Huyền Viện và sự đóng góp trực tiếp của y với tư cách là một phần không thể thiếu của nó. Điều này thoát khỏi thuyết thần bí hão huyền, và tạo ra nhà huyền linh học thực hành (practicing occultist).
4. Recognition of the immediate contribution of the Ashram and his immediate contribution as an integral part of it. This does away with visionary mysticism and produces the practicing occultist.
5. Một nghiên cứu về các phương pháp sáng tạo của Cung cụ thể của y và một sự hình dung đầy tưởng tượng về những điều sẽ được diễn tả khi công việc sáng tạo mong muốn đã chọn được hình thức đúng.
5. A study of the creative methods of his particular Ray and an imaginative visualisation of that which will be expressed when the desired creative work has taken due form.
6. Phóng chiếu có ý thức về sự đóng góp của y ra cõi trần bên ngoài. Một dự án sáng tạo hữu hình được đảm nhận và cuối cùng được tạo ra.
6. Conscious projection of his contribution onto the outer physical plane. A tangible creative project is undertaken and eventually produced.
7. Như vậy y đóng góp phần của y trong việc đưa vào biểu lộ ngoại cảnh công việc sáng tạo của Huyền Viện của y.
7. He thus plays his part in bringing into objectivity the creative undertaking of his Ashram.
Hạt giống của công việc sáng tạo này là những gì mà Huyền Viện đã sắp xếp cho thời điểm chính xác của nhu cầu được đưa ra của nhân loại, đúng về việc chọn thời gian và sắp xếp công việc. Điều này không thể là những gì mà nhân loại tin rằng họ đang cần; về cơ bản đó là những gì mà Thánh Đoàn nhận biết là yếu tố cần thiết, đưa đến sự tiến bộ cần thiết cho nhân loại ở một thời điểm đặc biệt nào đó trong thời gian. Ví dụ, nhân loại ngày nay tin rằng nhu cầu chủ yếu của họ là hòa bình và tiện nghi vật chất, và đang làm việc áng chừng cho cả hai; Thánh Đoàn thì biết rằng nhu cầu chủ yếu của nhân loại là việc nhận biết về hành động dại dột của sự chia rẽ trong quá khứ và sự sùng bái thiện chí. Những người phụng sự trong các Huyền Viện đang hướng mọi nỗ lực về những mục tiêu này. Do đó, nhiệm vụ sáng tạo của các đệ tử và các điểm đạo đồ đang hoạt động là tạo ra sự trình bày (sự xuất hiện) những chân lý cấp bách theo một cách mà việc nhận thức của nhân loại có thể trở nên vững vàng đến nỗi hành động chân chính có thể được
The seed of this creative work is that which the Ashram has planned for the exact moment of humanity's presented need, correct as to timing and placement. This may not be what humanity believes it needs; it is essentially what the Hierarchy recognises as the needed factor, leading to the needed progress for the race at any specific moment in time. For instance, humanity believes today that its major need is peace and material comfort and is working vaguely for both; the Hierarchy knows that its major need is the recognition of the folly of past separateness and the cult of goodwill. Towards these ends, workers in the Ashrams are bending every effort. The creative task, therefore, of working disciples and initiates is to produce that presentation (appearance) of the necessitous truths in such a manner that the recognition of humanity may be so sound that right action can duly be
