Chân Sư của các Chân Sư, tức Đức Christ, ngoại trừ trong chừng mực giúp cho chính Đấng Tham Dự (Participator) thiêng liêng phải đối mặt với một vùng bóng tối khác đang che giấu một sự huy hoàng còn cao siêu hơn. Đoạn trên vốn vượt xa sự hiểu biết của đạo sinh trung bình, nhưng sẽ được hiểu bởi những người có đôi mắt mở rộng mà bị mù.
Master of the Masters, the Christ, except in so far as it enables the divine Participator Himself to face another area of darkness, veiling and hiding a still more supernal glory. The above paragraph is far beyond the comprehension of the average student, but will be comprehended by those whose eyes are open to be blinded.
Các đạo sinh phải nhớ rằng bốn màn che trên cõi dĩ thái chỉ là các tương ứng thấp có tính biểu tượng đối với một vài lĩnh vực lớn của biểu lộ thiêng liêng, và rằng bao giờ cái huy hoàng cũng phải được tiếp cận nhờ bóng tối. Đó là Thiên Luật. Các yếu tố che đậy cao siêu này có thể được nói đến và được liệt kê ra, nhưng thông tin thêm nữa liên quan đến các bí ẩn này, bóng tối chia tách này mà điểm đạo đồ gặp phải, thì không thể được nêu ra:
Students must remember that the four veils upon the etheric plane are only the lower symbolic correspondences to certain great areas of divine expression, and that ever the glory must be approached through the darkness. Such is the Law. These higher veiling factors can be mentioned and enumerated, but more information concerning these mysteries, this separating darkness encountered by the initiate, may not be given:
BỨC MÀN I. Cái mà đệ-tử đối mặt khi y chiến đấu với Kẻ Chận Ngõ (Tổng Quả Báo) và trở nên có ý thức về Thiên Thần Bản Lai Diện Mục (Angel of the Presence), mặc dù cho đến nay y không thấy được Ngài.
VEIL I. That which faces the disciple as he wrestles with the Dweller on the Threshold and becomes conscious of the Angel of the Presence, though as yet he sees Him not.
BỨC MÀN II. Cái mà điểm đạo đồ bắt gặp ở cuộc điểm đạo thứ tư và bắt buộc y phải kêu lên trong sự mù lòa của mình: “Hỡi Chúa, hỡi Chúa, sao Ngài lìa bỏ con”. Những lời mà Đức Christ thốt ra vào lúc đó, và khi Đấng Tham Dự, đã bị quên bởi bên chính thống, mặc dù được gìn giữ bởi nhà huyền học (esotericist). H.P.B. có nhắc đến các lời này trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
VEIL II. That which the initiate encounters at the fourth initiation and which forces him to cry out in his blindness: “My God, my God, why hast Thou forsaken me.” The words uttered by the Christ at that time, and as the Participator, have been forgotten by the orthodox, though preserved by the esotericist. To them H.P.B. refers in The Secret Doctrine.
BỨC MÀN III. Hiện tượng mù bí ẩn đó vốn lấn át điểm đạo đồ, khi – với tư cách là Hiện Thân của tất cả các lực của Tam Thượng Thể Tinh Thần – Ngài đối mặt với Chân Thần (Monad) và bị thúc đẩy tới trước bởi “Ý Chí tàn phá” (“devastating Will”) của ngôi một. Tôi không thể viết về điều này. Nó liên quan đến cuộc điểm đạo thứ sáu và thứ bảy.
VEIL III. That mysterious blindness which overwhelms the initiate when—as the Embodiment of all the forces of the Spiritual Triad—He faces the Monad and is impelled forward by the “devastating Will” of the first aspect. Of this I may not write. It concerns the sixth and seventh initiations.
BỨC MÀN IV. “Thái Hư vô danh bất khả tri (unknown impenetrable Void), bóng tối phủ định hoàn toàn” mà các Đấng đang ở trong Huyền Linh Nội Điện của Vị Chúa Tể Thế Giới và được tập trung ở Shamballa phải đối mặt khi đến lúc Các Ngài “phủ nhận” toàn bộ sự biểu lộ sự sống và kinh nghiệm của hành tinh chúng ta. Lúc đó các Ngài phải để lại đằng sau tất cả bảy cõi của kinh nghiệm tâm linh và con người,
VEIL IV. That “unknown impenetrable Void, the utter darkness of negation” which Those Who are in the Council Chamber of the Lord of the World and Who are focussed in Shamballa face when the time comes for Them to “negate” our planetary life-expression and experience altogether. They must then leave behind all the seven planes of spiritual and human experience
