rõ rằng tất cả những thành tựu trong quá khứ, tất cả những gì Ngài đã thực hiện, đều chỉ là mở đầu cho một sự hợp nhất khác mà Ngài cần phải thực hiện với tư cách một con người. Và ở đó, trên Thập tự giá, hoàn toàn trước mắt công chúng, Ngài phải từ bỏ điều mà từ trước đến giờ Ngài vẫn nắm giữ, đó là linh hồn Ngài. Trong phút giây ngắn ngủi Ngài hiểu rằng việc từ bỏ này khiến mọi sự lâm nguy. Ngay cả ý thức rằng Ngài là Con của Thượng Đế, là linh hồn nhập thể (vì đó mà Ngài đã chiến đấu và hy sinh), cũng đã phải tan biến, và Ngài hoàn toàn trơ trọi, không còn bất cứ sự giao tiếp nào cả. Mọi cảm nhận xúc cảm và mọi phản ứng khả dĩ có đều không thể lấp đầy sự trống trải của tâm hồn. Dường như không chỉ nhân loại mà Thượng Đế cũng bỏ rơi Ngài. Điều mà Ngài đã dựa vào, là thiên tính mà Ngài đã tin tưởng, nay Ngài thấy có liên quan đến xúc cảm. Xúc cảm ấy Ngài cũng phải vượt lên. Vì thế mà tất cả đều phải bị từ bỏ.
that all the achievement of the past, all that He had done, was but the prelude to another atonement which He had to make as a human being; and there on the Cross, in the full blaze of publicity, He had to renounce that to which He had hitherto held, His soul, and realise for a brief instant that in this renunciation everything was at stake. Even the consciousness that He was the Son of God, the soul incarnate in the flesh (for which He had fought and sacrificed), had to disappear, and He be left bereft of all contacts. All sense of feeling and all possible reactions failed to fill the sensed void. He seemed deserted, not only by humanity, but by God. That upon which He had relied, the divinity of which He had felt assured, was found to be related to feeling. That feeling He must also transcend. All had therefore to be relinquished.
Chính qua kinh nghiệm này mà Đức Christ đã soi sáng con đường đưa đến tâm của Thượng Đế. Chỉ khi linh hồn đã biết cách tự đứng vững, tin chắc vào thiên tính, nhưng không có sự nhìn nhận hời hợt nào bên ngoài về thiên tính ấy, bấy giờ chính tâm điểm của sự sống tinh thần bên trong mới được công nhận là ổn định và vĩnh cửu. Với kinh nghiệm này, Đức Christ trở nên thích hợp cho cuộc điểm đạo Phục sinh. Do đó, Ngài chứng tỏ cho chính mình, và cho chúng ta, rằng Thượng Đế vốn hiện hữu, và sự bất tử của thiên tính là điều thực tế đã xác lập và không hề thay đổi. Trải nghiệm về nỗi cô đơn này, cảm thấy mình bị mất tất cả sức mạnh bảo vệ, và mất tất cả những gì từ trước đến nay được xem như thiết yếu cho đời sống, đó là dấu hiệu của sự thành tựu. Những người đệ tử thường hay quên điều này. Và khi nghe nói rằng Đức Christ che giấu sự thương khó của Ngài, thì người ta thường có những băn khoăn thoáng qua rằng liệu Ngài cũng “bị cám dỗ trong mọi phương diện như chúng ta,” hay không, và trong giây phút ấy liệu Ngài có đi xuống những hố thẳm hang sâu của thung lũng trần gian và cảm thấy hoàn toàn cô đơn hay chăng, vì đó vốn là phần thưởng cho những ai bước lên Thập tự giá trên đồi Golgotha.
It was through this experience that Christ blazed the trail to the very heart of God Himself. Only when the soul has learnt to stand alone, assured of divinity, and yet with no outer recognition of that divinity, can the very centre of spiritual life be recognised as stable and eternal. It was in this experience that Christ fitted Himself for the Resurrection initiation, and so proved to Himself, and to us, that God existed, and that the immortality of divinity is an established and unalterable fact. This experience of loneliness, of being bereft of all that protects, all that has hitherto been regarded as essential to one's very being, is the hallmark of achievement. Disciples are apt to forget this, and one wonders for a brief moment, as one listens to Christ thus veiling His agony, whether He was not again “in all points tempted like as we are,” and whether at this moment He did not descend into the deepest recesses of the valley and feel that utter aloneness which is the reward of those who mount the Cross on Golgotha.
Dù mỗi người con của Thượng Đế ở những giai đoạn khác nhau trên con đường điểm đạo đều chuẩn bị cho cảm thức cô đơn cuối cùng này bằng những giai đoạn hoàn toàn từ bỏ, nhưng đến cuộc khủng hoảng cuối cùng y vẫn phải nếm
Although each son of God at different stages upon his way of initiation prepares for this final loneliness by phases of utter rejection, when the final crisis comes he must experience
