Christ.“ Sự tương ứng giữa hai thời gian sống này thật có ý nghĩa. Sự vô minh, yếu đuối, và do đó mà điều chỉnh sai lầm của con người đã khiến Jesus thỉnh cầu cho họ được xá tội. Thế nhưng, khi kinh nghiệm sống đã đủ đầy, đến lượt chúng ta trở thành “trẻ thơ trong Christ,” chưa hiểu biết các luật của giới tinh thần, nhưng đã thoát khỏi sự tối tăm và vô minh của giới nhân loại.
Christ.” The parallels between the two episodes are significant. The ignorance, helplessness and consequent maladjustment of human beings evoked from Jesus the demand that forgiveness be accorded. But when life experience has played its part, we have again the “babe in Christ,” ignorant of the laws of the spiritual kingdom, yet released from the darkness and ignorance of the human kingdom.
Trong di ngôn thứ hai từ Thập tự giá, chúng ta nhận thức được giai đoạn của lễ Rửa tội, nó có nghĩa là sự thanh khiết và khai phóng qua sự thanh tẩy nhờ nước của sự sống. Nước phép Rửa tội của John giúp giải thoát khỏi vòng nô lệ của đời sống phàm nhân. Thế nhưng, sự Rửa tội mà Đức Christ nhận được là qua quyền năng của sự sống nơi chính Ngài. Chúng ta cũng nhận được nó qua sự sống Christ bên trong chúng ta. Đó là phép Rửa tội bằng lửa và qua đau khổ, lên đến tột đỉnh thống khổ trên Thập tự giá. Đối với người có thể chịu đựng đến cùng, thì tột đỉnh của nỗi đau khổ ấy là bước vào “cõi thiên đàng” – một tên gọi có hàm nghĩa là chân phúc. Có ba từ được dùng để chỉ năng lực vui sống này – đó là hạnh phúc, hoan hỉ, và chân phúc. Hạnh phúc có hàm ý hoàn toàn thuộc về hồng trần, và liên quan đến cuộc sống của chúng ta ở cõi trần và những mối liên giao trong đó. Hoan hỉ là bản tính của linh hồn và tự phản ánh trong hạnh phúc. Nhưng chân phúc, vốn là bản tính của Thượng Đế, là sự biểu lộ của thiên tính và của sự sống tinh thần. Có thể xem hạnh phúc là phần thưởng của việc sinh ra lần thứ hai, vì nó có ý nghĩa hồng trần. Cho nên chắc hẳn là Đức Christ đã hiểu được hạnh phúc, cho dù Ngài là “con người đau khổ.” Đặc biệt hơn nữa, niềm hoan hỉ là thuộc về linh hồn, lên đến mức mỹ mãn vào thời điểm Biến dung. Dù Đức Christ vốn “quen với nỗi đau khổ,” Ngài vẫn biết được niềm hoan hỉ trong tinh túy, qua câu nói “sự hoan hỉ của Thiên Chúa là sức mạnh của chúng ta.” Vì vậy, chính linh hồn, sự sống Christ trong mỗi người, là sức mạnh, là nguồn vui và tình thương. Ngài cũng biết được chân phúc, vì vào thời gian Thập giá hình Ngài có chân phúc là phần thưởng cho linh hồn đã chiến thắng vẻ vang.
In the second word from the Cross we have the recognition of the Baptism episode, which signified purity and release through the purification of the waters of life. The waters of John's Baptism released from the thraldom of the personality life. But the Baptism to which Christ was subjected through the power of His Own life, and to which we are also subjected through the life of Christ within us, was the Baptism of fire and of suffering, which finds its climax of pain upon the Cross. That climax of suffering, for the man who could endure unto the end, was his entrance to “paradise”—a name connoting bliss. Three words are used to express this power to enjoy—happiness, joy and bliss. Happiness has a purely physical connotation, and concerns our physical life and its relationships; joy is of the nature of the soul and reflects itself in happiness. But bliss, which is of the nature of God Himself, is an expression of divinity and of the spirit. Happiness might be regarded as the reward of the new birth, for it has a physical significance, and we are sure that Christ knew happiness, even though He was a “man of sorrows”; joy, being more especially of the soul, reaches its consummation at the Transfiguration. Though Christ was “acquainted with sorrow,” He knew joy in its essence, for the “joy of the Lord is our strength,” and it is the soul, the Christ in every human being, which is strength and joy and love. He knew also bliss, for at the Crucifixion the bliss which is the reward of the soul's triumph was His.
Thế là hai Quyền lực từ này “Lạy Cha xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm,” và “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng,” nói lên ý nghĩa tóm lược của hai cuộc điểm đạo đầu tiên.
Thus in these two Words of Power “Father, forgive them for they know not what they do,” and “To day thou shalt be with me in paradise,” we have the significances of the first two initiations summarised for us.
