có công dụng của nó, như Đức Christ đã hiểu. Trong Ngôi vị của mình, Ngài là Đức Jesus trong lịch sử mà chúng ta đã biết và hằng yêu mến. Nhưng đối với chúng ta, Ngài cũng là biểu tượng của Đấng Christ vũ trụ, là Thượng Đế chịu đau khổ qua nỗi đau khổ của chúng sinh mà Ngài đã tạo nên.
has its uses, as Christ knew. In His Person He was not only the historical Jesus Whom we know and love, but He was also the symbol to us of the cosmic Christ, God suffering through the sufferings of His created beings.
Sự công bằng cũng có thể là xá tội khi người ta hiểu đúng những sự kiện thực tế của vụ việc ấy. Và trong lời yêu cầu này của Đấng cứu thế đang chịu khổ hình thập tự, chúng ta thấy có thừa nhận Luật Công bằng, chứ không phải sự Trừng phạt. Một hành động khiến cả thế gian phải kinh ngạc. Tha thứ là công việc nghìn đời của linh hồn ở trong vật chất hay hình thể. Người tín đồ tôn giáo ở Đông phương gọi đó là nghiệp quả. Trong khi người tín hữu ở Tây phương lại nói về Luật Nhân Quả. Tuy nhiên, cả hai đều đề cập đến việc mỗi người thực hiện sự cứu rỗi của linh hồn mình, và việc người còn vô minh phải liên tục trả giá cho các sai lầm mà y đã mắc phải và những cái gọi là tội lỗi mà y đã phạm. Hiếm khi có ai cố ý phạm tội đi ngược lại ánh sáng và sự hiểu biết. Hầu hết “những kẻ tội lỗi” đều chỉ do họ còn vô minh. “Họ không hiểu biết việc họ làm.”
Justice can be forgiveness when the facts of the case are rightly understood, and in this demand of the crucified Saviour we have the recognition of the Law of Justice, and not that of Retribution, in an act at which the whole world stands aghast. This work of forgiveness is the age-long work of the soul in matter or form. The Oriental believer calls this karma. The Western believer talks of the Law of Cause and Effect. Both, however, are dealing with the working out by a man of his soul's salvation, and the constant paying of the price which the ignorant pay for mistakes made and so-called sins committed. A man who deliberately sins against light and knowledge is rare. Most “sinners” are simply ignorant. “They know not what they do.”
Rồi Đức Christ quay sang một tội nhân. Người này đã bị kết án phạm tội theo cách nhìn của thế gian. Chính y cũng công nhận bản án và hình phạt của mình là đúng. Y nói rằng mình đã nhận hậu quả đích đáng cho tội lỗi của mình. Đồng thời có điều gì đó trong phẩm cách của Jesus khiến y chú ý, và buộc phải thừa nhận rằng Phạm nhân thứ ba này đã “không làm điều gì sai quấy cả.” Có hai yếu tố khiến y được nhận vào cõi thiên đàng. Y nhận biết thiên tính nơi Đức Christ. “Hỡi Chúa,” y nói. Và đồng thời y cũng nhận thức được sứ mệnh của Đức Christ là thành lập Thiên giới. “Xin hãy nhớ đến tôi khi Ngài vào cõi giới của Ngài.” Ý nghĩa lời nói của y có tính cách vĩnh cửu và đại đồng, vì người nào nhận thức được thiên tính và đồng thời hiểu được Thiên giới, thì sẵn sàng hưởng được lợi ích của câu nói “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng.”
Then Christ turned to a sinner, to a man who had been convicted of wrong-doing in the eyes of the world—and who himself recognised the correctness of the judgment and of his punishment. He stated that he received the due reward of his sins, but at the same time there was something in the quality of Jesus which arrested his attention and forced from him the admission that this third Malefactor had “done nothing amiss.” The factor which accorded him admission into paradise was a two-fold one. He recognised the divinity of Christ. “Lord,” he said. And he also had a realisation of what Christ's mission was—to found a kingdom. “Remember me when Thou comest into Thy kingdom.” The significance of his words is eternal and universal, for the man who recognises divinity, and who at the same time is sensible of the kingdom, is ready to take advantage of the words, “To day, thou shalt be with me in paradise.”
Trong di ngôn thứ nhất từ Thập tự giá, Chúa Jesus xét đến sự vô minh và yếu đuối của con người. Bấy giờ Ngài yếu ớt như một đứa trẻ, và lời của Ngài cho thấy thực tế của cuộc điểm đạo thứ nhất, và thời gian Ngài còn là một “trẻ thơ trong
In the first word from the Cross, Jesus considered the ignorance and the feebleness of man. He was as helpless as a little child, and in His words He testified to the reality of the first initiation and to the time when He was a “babe in
