User Tools

Site Tools


books:24books:from_bethlehem_to_calvary:fbtc_144


Cũng cần lưu ý thêm một sự nhất quán khác mà Đức Christ đã thực hiện. Ngài thống nhất nơi chính mình quá khứ và tương lai, liên quan đến nhân loại. điều này được tiêu biểu rất có ý nghĩa qua việc Moses và Elias cùng xuất hiện với Ngài trên Đỉnh núi Biến dung. Họ đại diện cho Luật pháp và các Nhà tiên tri, theo thứ tự. Một nhân vật tượng trưng cho quá khứ của con người. Quá khứ đó đã hoàn thành theo Luật của Moses, ấn định những giới hạn mà con người không được vượt qua. Luật này cũng đưa ra huấn thị mà con người phải áp dụng cho phàm tính (bản chất-dục vọng) của mình, và nhấn mạnh các hạn chế mà toàn nhân loại phải áp dụng cho các hành động của mình. Khi xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả các luật này đều liên quan đến việc quản trị và chế ngự bản chất-dục vọng, thể tình cảm, và xúc cảm, mà tất cả chúng ta cần đề cập đến. Cũng lạ là từ “Moses,” theo Bảng chỉ mục của Cruden, có nghĩa là “lấy ra từ nước.” Chúng ta thấy rằng nước là biểu tượng của bản chất-dục vọng tình cảm thường thay đổi mà con người quen ẩn trú trong đó. Vì thế, Moses xuất hiện với Đức Christ như con người tiêu biểu của cái quá khứ sống tình cảm. Và kỹ thuật chế ngự tình cảm, xúc cảm về sau được thay thế khi mọi người hiểu rõ bức thông điệp của đời sống Đức Christ. Sự sống này tuôn đổ qua tâm thức của con người ngày càng sung mãn hơn. Đức Christ đưa ra điều răn tổng hợp là “các ngươi hãy yêu thương nhau.” Điều răn này khiến cho tất cả các Luật và sách Tiên tri trở nên không cần thiết. điều răn này cũng đưa Mười Điều răn vào hậu trường của đời sống, và khiến chúng trở nên thừa.

It is interesting to have in mind another at-one-ment which Christ made. He unified in Himself the past and the future, as far as humanity is concerned. This is significantly typified in the appearance with Him upon the Mount of Transfiguration of Moses and Elias, the representatives respectively of the Law and of the Prophets. In the one figure we find symbolised the past of man, with its summation in the Law of Moses, setting the limits beyond which man may not go, defining the injunctions which he must set upon his lower nature (the desire-nature), and emphasising the restrictions which the race as a whole must set upon its actions. Careful study will reveal that all these laws concern the government and control of the desire-nature, of the emotional, feeling body, to which we have already had need to refer. Curiously enough, the name “Moses,” according to Cruden's Concordance, means “taken out of the water.” We have already seen that water is the symbol of the fluidic emotional desire-nature in which man habitually dwells. Moses therefore appeared with Christ as typifying man's emotional past, and the technique of its control is to be later superseded when the message of Christ's life is duly understood, pouring through man's consciousness in ever greater fullness. Christ indicated the new synthetic commandment which is “to love one another.” This would render needless all the Law and the Prophets, and would relegate the Ten Commandments into the background of life, rendering them superfluous,

Vì tình thương phát ra từ con người đến Thượng Đế, và từ người này đến người khác, sẽ tự động và tích cực mang lại hành động đúng đắn, khiến người ta không thể vi phạm các điều răn. Lời phán “ngươi không được …” của Thượng Đế, truyền ra từ núi Sinai qua Moses, với sự nhấn mạnh tiêu cực, và lý giải có ý nghĩa trừng phạt, sẽ nhường chỗ cho sự chói ngời của bác ái, giúp mọi người hiểu rõ về thiện chí và ánh sáng, mà Đức Christ đã phóng rải trên núi Biến dung. Người ta thấy quá khứ nơi Ngài được thay thế bởi hiện tại đầy sinh động.

because the love which will flow out from man to God, and from man to man, will automatically and positively produce that right action which will make the breaking of the commandments impossible. The “shalt not” of God, spoken from Mount Sinai through Moses, with its negative emphasis and its punitive interpretation, will give place to the radiance of love and the understanding of goodwill and light which Christ radiated upon the mount of Transfiguration. The past met in Him and was superseded by a living present.

Elias, tên của ông có nghĩa là “sức mạnh của Chúa,” đã đứng

Elias, whose name means “the strength of the Lord,” stood

books/24books/from_bethlehem_to_calvary/fbtc_144.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki