cách biểu lộ trong thế giới bên ngoài qua trung gian của bộ máy bên ngoài của y. Khi y học cách làm điều này, bản chất của thế giới bên ngoài đó của các bộ máy biến đổi, và y ngày càng trở nên ý thức các tính chất đang đấu tranh cho sự biểu lộ đàng sau các hình tướng bên ngoài. Như vậy phạm vi của các tiếp xúc hữu thức của y mở rộng, và y chuyển (nhờ sự nghiên cứu khoa học) từ một sự hiểu biết bên ngoài về thế giới của các sắc tướng cõi hiện tượng đến một sự hiểu biết bên trong về thế giới của các tính chất. Do đó, đừng bao giờ quên rằng sự hiểu biết kép này phải được nhấn mạnh, và rằng khi con người học cách “tự biết mình”, y tự động học để biết tính chất nằm bên dưới mọi sắc tướng. Do đó hãy tìm kiếm tính chất ở mọi nơi. Đây là những gì mà chúng ta muốn nói đến khi chúng ta nói về việc thấy thiên tính ở mọi phía, về việc nhận biết âm điệu (note) được phát ra từ mọi chúng sinh, và về việc ghi nhận tư tưởng chủ đạo ẩn giấu của mọi cái đang xuất hiện. Người nam hay nữ chưa thức tỉnh thấy được hình hài, ghi nhận các hình thức hoạt động của nó, và “xét đoán bằng các sắc tướng”. Người tìm đạo đang thức tỉnh bắt đầu cảm nhận được một số vẻ đẹp còn ẩn giấu sau mọi hình tướng; vị đệ tử đã thức tỉnh đặt tiêu điểm chú ý của y vào thế giới của các tính chất đang xuất hiện, và trở nên dần ý thức về màu sắc, về các lĩnh vực mới mẻ của âm thanh, về một bộ máy đáp ứng mới đang phát triển bên trong vốn đang bắt đầu cho phép y tiếp xúc với thế giới vô hình, không có hình tướng, và không được tiết lộ. Y trở nên ý thức về những xung lực chủ quan đang chi phối tính chất của sự sống, đang chậm chạp và từ từ tiết lộ chính chúng.
expression in the outer world through the medium of his outer mechanism. As he learns to do this, the nature of that outer world of mechanisms alters, and he increasingly becomes aware of the qualities struggling for expression behind the outer forms. Thus the range of his conscious contacts extends, and he passes (through scientific research) from an exoteric understanding of the world of phenomenal appearances to an esoteric comprehension of the world of qualities. Never forget, therefore, that this dual apprehension must be emphasized, and that as a man learns to “know himself,” he automatically learns to know the quality underlying all appearances. Look therefore for the quality everywhere. This is what we mean when we speak of seeing divinity on every hand, of recognising the note sounded by all beings, and of registering the hidden motif of all appearing. The unawakened man or woman sees the form, notes its forms of activity, and “judges by appearances.” The awakening aspirant begins to sense some of the beauties that lie unrevealed behind all forms; the awakened disciple lays the focus of his attention upon the emerging world of qualities, and becomes steadily aware of colour, of new ranges of sound, of an inner evolving and newer response apparatus which is beginning to enable him to contact the unseen, the intangible, and the unrevealed. He becomes aware of those subjective impulses which condition the quality of the life, and which are slowly and gradually revealing themselves.
Chính cái đẹp bên trong không được tiết lộ ra này đang nằm đằng sau việc các giáo hội đề ra sự nhấn mạnh về việc vun bồi các đức hạnh, và các nhà huyền học đặt ra việc dùng một tư tưởng hạt giống trong lúc tham thiền. Các tư tưởng hạt giống và các đức hạnh này phục vụ cho một mục tiêu quan trọng và có tính xây dựng. Chân lý hiển nhiên của Thánh Kinh cho rằng “khi một người suy tưởng trong tâm của y thế nào, thì y thế ấy”, được dựa trên cùng một
It is this unrevealed inner beauty which lies back of the emphasis laid by the churches upon the cultivation of the virtues, and by the occultists upon the use of a seed thought in meditation. These seed thoughts and virtues serve a valuable and constructive purpose. The Biblical truism that “as a man thinketh in his heart, so is he,” is based on the same basic
