Đấng Tối Cao, mà tất nhiên sẽ được thể hiện sau này khi mục tiêu hiện tại được đạt đến. Sự luân phiên của sự biểu lộ khách quan và sự mờ tối chủ quan, sự thở ra theo chu kỳ, được theo sau bằng sự hít vào (in-breathing) tất cả những gì đã được đưa ra qua sự tiến hóa, được hiện thân trong hệ thống một trong các rung động cơ bản của vũ trụ, và chủ âm của Thực Thể vũ trụ đó mà chúng ta là cơ thể của Ngài. Quả tim đang đập của Thượng Đế (nếu điều đó có thể được diễn tả một cách không thích hợp như thế) là cội nguồn của toàn bộ sự tiến hóa theo chu kỳ, và đó là tầm quan trọng được gắn với trạng thái phát triển được gọi là “trái tim” hay “trạng thái bác ái”, và sự quan tâm được đánh thức bởi việc nghiên cứu về nhịp điệu. Điều này đúng, không những về mặt vũ trụ và đại vũ trụ, mà cũng đúng trong việc khảo cứu về con người. Nằm bên dưới mọi cảm nhận hồng trần được gắn với sự nhịp nhàng, rung động, các chu kỳ và nhịp tim (heart-beat), có các sự tương đồng chủ quan của chúng—bác ái, cảm giác, cảm xúc, dục vọng, sự hài hòa, sự tổng hợp và trình tự có trật tự—và ở sau các tương đồng này có cội nguồn của vạn vật, sự đồng nhất của Đấng Tối Cao, vốn biểu lộ chính Ngài như thế.
Supreme Being, which perforce will be later demonstrated when the present objective is attained. The dual alternation of objective manifestation and of subjective obscuration, the periodic out-breathing, followed by the in-breathing of all that has been carried forward through evolution, embodies in the system one of the basic cosmic vibrations, and the keynote of that cosmic ENTITY whose body we are. The heart beats of the Logos (if it might be so inadequately expressed) are the source of all cyclic evolution, and hence the importance attached to that aspect of development called the “heart” or “love aspect,” and the interest that is awakened by the study of rhythm. This is true, not only cosmically and macrocosmically, but likewise in the study of the human unit. Underlying all the physical sense attached to rhythm, vibration, cycles and heart-beat, lie their subjective analogies—love, feeling, emotion, desire, harmony, synthesis and ordered sequence—and back of these analogies lies the source of all, the identity of that Supreme Being Who thus expresses Himself.
Do đó, việc nghiên cứu về pralaya, hay sự triệt thoái của sự sống ra khỏi thể dĩ thái, sẽ giống nhau, dù cho người ta nghiên cứu sự triệt thoái của thể dĩ thái con người, sự triệt thoái của thể dĩ thái hành tinh, hoặc là sự triệt thoái của thể dĩ thái của thái dương hệ. Hiệu quả giống nhau và các kết quả đều tương tự.
Therefore the study of pralaya, or the withdrawal of the life from out of the etheric vehicle, will be the same whether one studies the withdrawal of the human etheric double, the withdrawal of the planetary etheric double, or the withdrawal of the etheric double of the solar system. The effect is the same and the consequences similar.
Kết quả của sự triệt thoái này là gì, hay đúng hơn, điều gì gây nên cái mà chúng ta gọi là sự chết hay pralaya? Khi chúng ta theo đuổi nghiêm nhặt văn phong trong bộ Luận này, chúng ta sẽ tiếp tục phương pháp lập bảng của chúng ta. Sự triệt thoái thể dĩ thái của một người, một hành tinh và một thái dương hệ được mang lại do các nguyên nhân sau:
What is the result of this withdrawal, or rather, what causes that something which we call death or pralaya? As we are strictly pursuing the text book style in this treatise, we will continue our method of tabulation. The withdrawal of the etheric double of a man, a planet, and a system is brought about by the following causes:
a. Sự chấm dứt ham muốn. Việc này có thể là kết quả của mọi diễn trình tiến hóa. Theo Thiên Luật, cái chết thực sự
a. The cessation of desire. This should be the result of all evolutionary process. True death, under the law, is
