nó được dựa vào tính không nhạy cảm của người trung bình đối với sự sống, được rút ra từ một hiện thể hữu hình; nó không biết đến mọi bằng chứng đối với sự trái ngược, và nói rằng vì chúng ta không thể thấy (về thị giác) và chứng minh (một cách xác thật) tính bền vững của “Cái Tôi” hay thực thể bất tử sau cái chết, thì nó không tồn tại. Thuyết này không được duy trì bởi rất nhiều người như nó đã được duy trì trong các năm trước, nhất là trong kỷ nguyên duy vật của nữ hoàng Victoria.
it is based on the nonsensitivity of the average human being to life, withdrawn from a tangible vehicle; it ignores all evidence to the contrary and says that because we cannot see (visually) and prove (tangibly) the persistence of the “I” or the immortal entity after death, it is nonexistent. This theory is not held by so many as it was in earlier years, particularly during the materialistic Victorian age.
2. Lý thuyết về sự bất tử có điều kiện. Thuyết này vẫn được duy trì bởi một số người theo trào lưu chính thống (fundamentalist) và các trường phái tư tưởng thần học hẹp hòi, và cũng bởi một thiểu số giới trí thức, chủ yếu là những người có khuynh hướng ích kỷ. Thuyết đó ấn định rằng chỉ có những người đạt đến giai đoạn đặc biệt của nhận thức tâm linh, hoặc chấp nhận một tập hợp riêng các tuyên bố thần học, mới có thể nhận món quà bất tử cá nhân. Người trí thức cao đôi khi cũng biện luận rằng món quà hoàn thiện cho nhân loại là một thể trí được phát triển và được vun bồi, và rằng những ai sở hữu món quà này cũng được ban tặng sự tiếp tục tồn tại vĩnh cửu. Một trường phái không thừa nhận những ai vốn là điều mà họ xem là những người ngoan cố về tâm linh hoặc phủ định sự áp đặt các xác tín thần học đặc biệt của họ, hoặc phủ định sự hủy diệt hoàn toàn giống như trong giải pháp duy vật, hoặc phủ định một tiến trình trừng phạt đời đời, như vậy đồng thời ủng hộ cho một hình thức bất tử. Do lòng tốt bẩm sinh trong tâm nhân loại, rất ít người hận thù hoặc đủ nhẹ dạ để xem sự trình bày này như có thể chấp nhận, và dĩ nhiên trong số đó chúng ta phải xếp những người thiếu suy nghĩ, trốn tránh trách nhiệm trí tuệ vào niềm tin mù quáng trong các tuyên bố thần học. Sự giải thích của Thiên Chúa giáo, như được đưa ra bởi các trường phái chính thống và theo trào lưu chính thống, tỏ ra không đứng vững khi được lập luận theo lý luận rõ ràng; trong số các luận cứ vốn phủ nhận tính chính xác của nó, có ẩn sự kiện rằng
2. The theory of conditional immortality. This theory is still held by certain fundamentalist and theologically narrow schools of thought and also by a few of the intelligentsia, primarily those of egoistic tendency. It posits that only those who reach a particular stage of spiritual awareness, or who accept a peculiar set of theological pronouncements, can receive the gift of personal immortality. The highly intellectual also argue at times that the crowning gift to humanity is a developed and cultured mind, and that those who possess this gift are likewise endowed with eternal persistence. One school dismisses those who are what they regard as spiritually recalcitrant or negative to the imposition of their particular theological certainties, either to complete annihilation as in the materialistic solution, or to a process of eternal punishment, thus at the same time arguing for a form of immortality. Owing to the innate kindness of the human heart, very few are vindictive or unthinking enough to regard this presentation as acceptable, and of course among those we must class the unthinking people who escape from mental responsibility into blind belief in theological pronouncements. The Christian interpretation as given by the orthodox and the fundamentalist schools proves untenable when submitted to clear reasoning; among the arguments which negate its accuracy lies the fact that
