cánh của Thập giá mà con người bị đóng đinh trên đó—hai dòng năng lượng hay ánh sáng được đặt ngang qua dòng sự sống đi xuống từ Chân Thần đến chót xương sống và đi qua đầu.
arms of the Cross upon which the man is crucified—two streams of energy or light placed athwart the stream of life descending from the monad to the base of the spine and passing through the head.
Ý tưởng về tính tương đối là ý tưởng phải luôn luôn được giữ trong trí khi đạo sinh tìm hiểu về các bí huyệt, được liên kết bên trong với dĩ thái thể, đồng thời được liên kết với các thể tinh anh, với các trạng thái tâm thức vốn đồng nghĩa với các trạng thái hiện tồn và biểu lộ, với các năng lượng cung, với các tình huống chung quanh, với ba hiện thể định kỳ (như H.P.B. gọi là phàm ngã, linh hồn tam phân và Tam Thượng Thể Tinh Thần), với Shamballa, và với toàn thể các Sự Sống biểu lộ. Tính phức tạp của chủ đề rất lớn, nhưng, khi đệ tử hoặc điểm đạo đồ đang hoạt động trong ba cõi thấp và các năng lượng khác nhau của toàn bộ con người được “tiếp đất” trong con người bị giới hạn vào cõi trần, lúc bấy giờ, tình hình trở nên rõ ràng hơn. Tôi dùng cụm từ “được tiếp đất” (“grounded”) theo ý nghĩa đích thực và chính xác của nó, chứ không phải như sự mô tả về một người đã loại bỏ thể xác của y như nhà duy linh dùng thuật ngữ đó. Một số nhận thức trong thời gian và không gian trở nên có thể xảy ra; một số hiệu quả có thể được lưu ý, một số ảnh hưởng của cung có vẻ trội hơn các ảnh hưởng khác; một vài “nguyên mẫu hiện tồn” xuất hiện; một sự biểu lộ của một Đấng tinh thần ở một trình độ kinh nghiệm hữu thức nào đó hiện ra một cách rõ rệt và bấy giờ có thể được chẩn đoán về mặt tinh thần. Các trạng thái và các thuộc tính của nó, các lực và năng lượng của nó, có thể được xác định vào thời điểm đó và đối với một sự biểu lộ đặc thù được tạo ra của sự sống. Điều này phải được ghi nhớ, và các tư tưởng của đạo sinh không được phép lang thang ra ngoài quá xa, mà phải được tập trung vào dáng vẻ bề ngoài của con người (chính y hay một người khác), và vào tính chất đang xuất hiện. Khi kẻ nghiên cứu là một đệ tử hay một điểm đạo đồ, y sẽ cũng có thể nghiên cứu khía cạnh sự sống.
The idea of relativity is one that must ever be held in mind as the student seeks to comprehend the centres, interiorly related within the etheric body, related at the same time to the subtler bodies, to the states of consciousness which are synonymous to states of being and of expression, to ray energies, to environing conditions, to the three periodical vehicles (as H. P. B. calls the personality, the threefold soul and the Spiritual Triad), to Shamballa and to the totality of manifested Lives. The complexity of the subject is extreme, but when the disciple or initiate is functioning in the three worlds and the various energies of the whole man are “grounded” in the earthbound man, then the situation becomes clearer. I use the expression “grounded” in its true and correct sense, and not as the description of a man who has discarded his physical body as the spiritualists use the term. Certain recognitions in time and space become possible; certain effects can be noted, certain ray influences appear more dominant than others; certain “patterns of being” appear; an expression of a spiritual Being at a certain point of conscious experience emerges into clarity and can then be spiritually diagnosed. Its aspects and attributes, its forces and energies, can be determined at that time and for a particular created expression of life. This must be borne in mind, and the thoughts of the student must not be permitted to rove too far afield but must be concentrated upon the appearance of the man (himself or another) and upon the emerging quality. When that student is a disciple or an initiate, he will be able also to study the life aspect.
