bình đẳng. Bấy giờ trẻ em, cả trai và gái, đều được dạy rằng lai lịch của mỗi người dù thuộc về Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Anh Quốc, Do Thái hoặc chủng tộc khác đều không có gì quan trọng. Bấy giờ các em được dạy rằng điều quan trọng là mỗi người có cơ sở và quá trình lịch sử giúp họ khả dĩ đóng góp phần nào cho đời sống tốt đẹp của toàn nhân loại. Và bấy giờ các em được dạy rằng điều chính yếu là phải có thái độ thiện chí và thường xuyên bồi dưỡng những mối liên giao chính đáng trong nhân loại. Sự Hợp nhất Thế giới sẽ là điều thực tế khi trẻ em trên thế giới được dạy cho biết rằng những khác biệt về tôn giáo phần lớn là do mọi người ra đời trên những vùng đất khác nhau. Các em được dạy cho biết rằng nếu một người sinh ra ở Ý thì có thể người đó trở thành tín đồ Công giáo La-mã. Nếu một người sinh ra ở Do Thái thì có thể người đó là tín đồ Do Thái giáo. Nếu sinh ra ở Châu Á thì có thể người đó trở thành tín đồ Đạo Hồi, Đạo Phật, hoặc thuộc về một môn phái khác của Ấn giáo. Nếu ra đời ở những nước khác thì có thể người đó theo Đạo Tin Lành, v. v. Người ta sẽ hiểu rằng các khác biệt về tôn giáo đều hầu như là những cuộc tranh cãi do con người tạo ra về cách họ giải thích chân lý. Nhờ thế, các tranh cãi và khác biệt giữa mọi người sẽ được hóa giải, và ý niệm về Nhân loại Duy nhất sẽ trở nên điều thực tế.
and girls are taught that it does not matter whether a man is an Asiatic, an American, a European, British, a Jew or a Gentile but only that each has an historical background and history which enables him to contribute something to the good of the whole, and that the major requirement is an attitude of goodwill and a constant effort to foster right human relations. World Unity will be a fact when the children of the world are taught that religious differences are largely a matter of birth; that if a man is born in Italy, the probability is that he will be a Roman Catholic; if he is born a Jew, he will follow the Jewish teaching; if born in Asia, he may be a Mohammedan, a Buddhist, or belong to one of the Hindu sects; if born in other countries, he may be a Protestant and so on. He will learn that the religious differences are largely the result of man made quarrels over human interpretations of truth. Thus gradually, our quarrels and differences will be offset and the idea of the One Humanity will take their place.
Sẽ phải thận trọng hơn nữa trong việc chọn lựa và đào tạo các giáo viên sau này. Trình độ trí tuệ và kiến thức của họ về môn học mà họ phụ trách sẽ là điều quan trọng. Thế nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là họ cần rũ sạch thành kiến, và thấy tất cả mọi người đều là thành viên của một đại gia đình. Nhà giáo dục trong tương lai cần phải là nhà tâm lý học thành thạo hơn nhà giáo dục hiện nay. Ngoài việc truyền đạt kiến thức học thuật, giáo viên còn nhận thức rằng nhiệm vụ chính của mình là khơi dậy ý thức trách nhiệm đích thực nơi học sinh trong lớp. Dù đang dạy môn gì – lịch sử, địa lý, toán, ngôn ngữ, các ngành khoa học hay triết học – giáo viên cũng liên hệ cả môn đó với Khoa học về Những mối Liên giao Chính đáng trong Nhân loại, và cố gắng đưa ra cho học sinh một viễn cảnh về tổ chức xã hội đúng thực hơn trong thời gian trước.
Much greater care will have to be given in picking and training the teachers of the future. Their mental attainments and their knowledge of their particular subject will be of importance, but more important still will be the need for them to be free from prejudice and to see all men as members of a great family. The educator of the future will need to be more of a trained psychologist than he is today. Besides imparting academic knowledge, he will realise that his major task is to evoke out of his class of students a real sense of responsibility; no matter what he has to teach—history, geography, mathematics, languages, science in its various branches or philosophy—he will relate it all to the Science of Right Human Relations and try to give a truer perspective than in the past upon social organisation.
Khi lớp trẻ trong tương lai – với sự áp dụng các nguyên tắc được đề nghị – đã hấp thụ nếp sống văn minh, văn hóa và hiểu rõ tư cách công dân thế giới, thì bấy giờ nhân loại sẽ tỉnh thức, có khả năng sáng tạo, có ý thức giá trị chân
When the young people of the future—under the proposed application of principles—are civilised, cultured and responsive to world citizenship, we shall have a world of men awakened, creative and possessing a true sense of values
