giờ, nhà giáo dục có thể xử lý những nỗi khó khăn chính yếu kể trên một cách sáng suốt, và dùng minh triết cùng với sự hợp tác và cảm thông từ đứa trẻ để hóa giải những khuynh hướng bất hảo của em. Em sẽ cảm thông vì em được thông cảm và do đó không còn sợ hãi.
into incarnation. Then these major difficulties can be handled in an enlightened manner, and those basic tendencies which are undesirable can be offset through the wisdom of the educator, plus the cooperation and understanding of the child. He will understand because he is understood and consequently fearless.
Giờ đây, chúng ta hãy minh định một kế hoạch giáo dục mở rộng hơn về sau này cho trẻ em trên thế giới. Chúng ta đã ghi nhận rằng cho dù mọi nước đều có những tiến trình giáo dục phổ cập và nhiều trung tâm học vấn, chúng ta vẫn chưa cung ứng được cho giới trẻ lề lối giáo dục giúp các em có thể sống một cách toàn vẹn và xây dựng. Việc phát triển nền giáo dục trên thế giới ngày càng tăng tiến theo ba đường hướng chính, khởi đầu từ phương Đông và ngày nay đang đạt đến đỉnh cao ở phương Tây. Tất nhiên là tôi chỉ nói trong phạm vi thời gian hai hoặc ba thiên kỷ vừa qua. Ở Á Đông, qua nhiều thế kỷ, người ta đã đào tạo chuyên sâu cho một số cá nhân được chọn lựa kỹ, và hoàn toàn không quan tâm đến quần chúng. Á Đông và chính Á Đông đã sản sinh ra những nhân vật lỗi lạc, mà mãi đến ngày nay vẫn được toàn thế giới tôn sùng – đó là Đức Lão tử, Đức Khổng tử, Đức Phật, Đức Shri Krishna, và Đức Christ. Các Ngài đã lưu lại những ấn tượng tốt đẹp cho muôn triệu người và ảnh hưởng đó hiện vẫn còn gia tăng.
Let us now formulate a more extended plan for the future education of the children of the world. We have noted that in spite of universal educational processes and many centres of learning in every country, we have not yet succeeded in giving our young people the kind of education which will enable them to live wholly and constructively. The development of world education has been progressively along three main lines, starting in the East and culminating today in the West. Naturally, I am speaking only in terms of the last two or three thousand years. In Asia, we have had the intensive training, down the centuries, of certain carefully chosen individuals and a complete neglect of the masses. Asia and Asia alone has produced those outstanding figures who are, even today, the object of universal veneration—Lao Tze, Confucius, the Buddha, Shri Krishna and the Christ. They have set Their mark upon millions and still do.
Rồi ở Châu Âu, người ta cũng đã tập trung quan tâm giáo dục vào một thiểu số các đoàn nhóm có đặc quyền, đào tạo văn hóa cho họ với kế hoạch thận trọng. Trong khi đó quần chúng chỉ hưởng được nền học vấn sơ đẳng đến mức cần thiết. Theo từng giai đoạn, cố gắng này đã tạo nên những thời kỳ quan trọng trong công cuộc phát triển văn hóa, như thời đại Elizabeth, thời kỳ Phục hưng, các thi sĩ và văn sĩ của thời đại Victoria, và các thi sĩ và nhạc sĩ của Đức. Thêm vào đó là những nhóm nghệ sĩ vẫn còn lưu danh trong Trường phái Ý, cùng các nhóm ở Hà Lan và Tây Ban Nha.
Then in Europe, we have had educational attention concentrated upon a few privileged groups, giving them a carefully planned cultural training but teaching only the necessary rudiments of learning to the masses. This produced periodically such important epochs of cultural expression as the Elizabethan period, the Renaissance, the poets and writers of the Victorian era and the poets and musicians of Germany, as well as the clusters of artists whose memory is perpetuated in the Italian School, the Dutch and the Spanish groups.
Cuối cùng, ở những nước mới hơn trên thế giới, như Hoa Kỳ, Úc và Canada, nền giáo dục đại chúng đã được thiết lập và phần lớn được noi theo trong toàn thế giới văn minh. Trình độ thành đạt chung về văn hóa đã có trong các giai
Finally, in the newer countries of the world, such as the United States, Australia and Canada, mass education was instituted and was largely copied throughout the entire civilised world. The general level of cultural attainment
