thuật ngữ. Đây là khoa học đích thực và là mục tiêu của thuật điều khí (pranayama). Điều đó tất nhiên có bao hàm ý thức não bộ. Thời kỳ chuyển tiếp giữa các hơi thở chỉ có thể sử dụng đúng khi một người đã có năng lực đi theo thời kỳ chuyển tiếp của sự đại định ảnh hưởng đến linh hồn, thể trí và não bộ. Cũng như thể trí đã được giữ trong ánh sáng, và đã trở nên dễ tiếp thu đối với ấn tượng của linh hồn, bộ não cũng phải được giữ cho dễ tiếp thu với ấn tượng từ thể trí.
the term. This is the true science and objective of pranayama. The brain consciousness is necessarily involved. The interlude between breaths is only capable of right use where a man has achieved the power to follow the interlude of contemplation affecting the soul and the mind and the brain. Just as the mind has been held in the light, and has been receptive to the soul impression so the brain has to be held receptive to impression from the mind.
Do đó, một thời kỳ chuyển tiếp (theo quan điểm của linh hồn và phàm-ngã đã được thống nhất) diễn ra sau giai đoạn hít vào của linh hồn (soul inhalation), khi tâm thức đi ra đã được gom vào trong, và thời kỳ chuyển tiếp kia xảy ra vào lúc kết thúc thời kỳ chuyển tiếp đó, khi linh hồn lại trở nên hướng ngoại một cách hữu thức với thế giới khách quan; sự thở ra thay thế cho sự hít vào và cũng có thời kỳ chuyển tiếp của nó. Các đệ-tử phải học sự khéo léo trong việc sử dụng hai thời kỳ chuyển tiếp này của linh hồn – một thời kỳ chuyển tiếp tạo ra các hiệu quả trên thể trí, còn thời kỳ kia tạo ra hiệu quả trên não bộ.
One interlude therefore (from the standpoint of the united soul and personality) takes place after the period of soul inhalation, when the outgoing consciousness has been gathered inward, and the other takes place at the close of that interlude when the soul again becomes outgoing consciously to the objective world; exhalation takes the place of inhalation and also has its interlude. The disciple has to learn facility in utilising these two soul interludes—one of which produces effects upon the mind, and the other upon the brain.
Như thường lệ, có một tương đồng ở cõi trần của tiến trình hít vào và thở ra thiêng liêng này với hai giai đoạn chuyển tiếp của nó về sự tĩnh lặng và về tư tưởng. Để Tôi lặp lại lần nữa những hệ quả của các giai đoạn chuyển tiếp này. Trong thời kỳ chuyển tiếp cao, tư tưởng trừu tượng hay tư tưởng thiêng liêng gây ấn tượng cho linh hồn và được chuyển đến thể trí đang chờ đợi; trong thời kỳ chuyển tiếp thấp, thể trí, qua tư tưởng cụ thể và một cố gắng để thể hiện tư tưởng thiêng liêng thành hình tướng, gây ấn tượng xuống não bộ và tạo ra tác động qua trung gian thể xác.
There is, as always, a physical plane analogy of this process of divine inhalation and exhalation with its two interludes of silence and of thought. Let me again re-iterate the consequences of these interludes. In the higher interlude, abstract or divine thought impresses the soul and is transmitted to the waiting mind; in the other, the mind, through concrete thought and an attempt to embody divine thought in form, impresses the brain and produces action through the medium of the physical body.
Các môn sinh huyền linh học, vốn đã thể hiện sự tận tâm của họ và sự quân bình trí tuệ của họ, và (để sử dụng công thức cổ xưa của các trường phái thiền) đã giữ năm huấn lệnh và năm quy tắc, và đã đạt được sự quân bình đúng mức, có thể bắt đầu vận dụng các thời kỳ chuyển tiếp giữa hai trạng thái của cách thở của xác thân cho sự hoạt động mãnh liệt và cho việc sử dụng quyền năng của ý chí để tạo ra các hiệu ứng huyền thuật.
Students of occultism who have demonstrated their devotion and their mental poise, and who (to use the ancient formula of the schools of meditation) have kept the five commandments and the five rules, and have achieved right poise, can begin to use the interludes between the two aspects of physical breathing for intense activity and the use of the power of will to produce magical effects.
