cách suy tưởng sáng tạo có tính chất xây dựng; một số định kiến (hãy lưu ý giá trị huyền bí của cụm từ đó) sẽ bị chuyển vào hậu cảnh để cho các chân trời mới sẽ được hình dung ra, và những ý tưởng mới có thể đi vào. Điều này sẽ đòi hỏi một sự cảnh giác hằng ngày, hằng giờ, nhưng chỉ đến khi nào những thói quen cũ đã được khắc phục và nhịp điệu mới được thiết lập. Lúc bây giờ, người tìm đạo sẽ phát hiện rằng thể trí quá tập trung vào những ý tưởng tâm linh mới đến nỗi hình-tư-tưởng cũ sẽ không còn lôi cuốn được sự chú ý; chúng sẽ chết vì đói. Có sự khích lệ trong ý tưởng này. Công việc của ba năm đầu tiên sẽ gian khổ nhất. Sau đó thể trí sẽ được thu hút bởi những ý tưởng, chứ không phải bởi hình-tư-tưởng nữa.
thinking; certain preconceived ideas (note the esoteric value of that phrase), will be relegated to the background so that the new horizons will be visioned and the new ideas can enter. This will entail a daily, hourly watchfulness, but only until ancient habits have been overcome and the new rhythm established. Then the aspirant will discover that the mind is so focussed on the new spiritual ideas that the old thought-forms will fail to arrest the attention; they will die of inanition. There is encouragement in this thought. The first three years' work will be the hardest. After that the mind will be engrossed by the ideas and not by the thought-form.
Thứ ba, bằng cách từ chối sống trong thế giới tư tưởng riêng của mình, và bằng cách nhập vào thế giới của các ý tưởng và dòng chảy của các luồng tư tưởng của nhân loại. Thế giới ý tưởng là thế giới của linh hồn, và của thượng trí. Dòng tư tưởng của con người và dòng dư luận là dòng của ý thức quần chúng và của hạ trí. Người tìm đạo phải hoạt động tự do trong cả hai cõi giới. Hãy lưu ý cẩn thận điều này. Tư tưởng này không phải là việc y phải hoạt động một cách tự do, vốn liên quan nhiều với ý tưởng về sự tiện nghi (facility), mà là y phải hoạt động như một tác nhân tự do (free agent) trong cả hai cõi giới. Nhờ sự thiền định không ngừng hằng ngày, y làm được điều thứ nhất. Nhờ sự hiểu biết rộng rãi và sự quan tâm và am hiểu đầy cảm thông, y hoàn thành được điều thứ hai.
Thirdly, by refusing to live in one's own thought world and by entering the world of ideas and the stream of human thought currents. The world of ideas is the world of the soul, and of the higher mind. The stream of human thoughts and of opinions is that of the public consciousness and of the lower mind. The aspirant must function free in both worlds. Note this with care. The thought is not that he must function freely, which involves more the idea of facility but that he must function as a free agent in both worlds. Through constant daily meditation he does the first. Through wide reading and sympathetic interest and understanding he accomplishes the second.
Thứ tư, y phải học cách tự tách mình ra khỏi các sáng tạo tư tưởng riêng của y, và để tư tưởng tự do hoàn thành mục đích mà vì đó y đã sáng suốt phái chúng đi. Tiến trình thứ tư này gồm có hai phần:
Fourthly, he must learn to detach himself from his own thought creations, and leave them free to accomplish the purpose for which he intelligently sent them forth. This fourth process falls into two parts:
1. Bằng cách sử dụng một cụm từ thần bí, y cắt đứt mối liên kết đang nắm giữ một ý tưởng được thể hiện trong hào quang tư tưởng của y.
1. By the use of a mystic phrase he severs the link which holds an embodied idea in his thought-aura.
2. Bằng cách tách thể trí của mình ra khỏi ý tưởng, một khi y đã phái nó đi làm nhiệm vụ, y học bài học của Chí-Tôn-Ca (Bhagavad Gita) và “hành động mà không dính mắc” (“works without attachment”).
2. By detaching his mind from the idea, once he has sent it on its mission, he learns the lesson of the Bhagavad Gita and “works without attachment”.
Hai điểm này sẽ thay đổi tùy theo sự phát triển và tình trạng của người tìm đạo. Mỗi người phải lập công thức
These two points will vary according to the growth and status of the aspirant. Each has, for himself, to formulate
