tiến hành phần lớn một cách vô thức. Các ngôn từ cần được bàn đến như sau:
carried forward for the most part unconsciously. The words to be dealt with are as follows:
III. Cuối cùng, việc thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y ra khỏi hoạt động của chúng.
III. Finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work.
Do đó, có vẻ như là vào lúc kết thúc công việc sáng tạo về huyền thuật, một cụm từ phải được phát ra để thực hiện sự bảo vệ, và tạo ra một sự giải thoát gồm hai loại – một sự giải thoát cho tác nhân tạo tác (creating agent) ra khỏi hình tư tưởng mà y đã tạo ra, và sự giải phóng hình tư tưởng đó ra khỏi sự kiểm soát của kẻ đã tạo ra nó.
Therefore it appears that at the close of the magical work of creation, a phrase must be enunciated which effects a salvation and produces a liberation of a dual kind,—a liberation of the creating agent from the form which he has created, and the emancipation of that form from the control of the one who has brought it into being.
Hiển nhiên là bản chất của lời nói liên quan đến những ý tưởng được thể hiện đã đang được hiểu phần nào. Việc nghiên cứu phương pháp nói chuyện hiện đang là yếu tố chính được dùng để “phóng ra một ý tưởng”. Hãy lưu ý cách thức mà mọi phát minh (vốn không nhiều mà cũng không ít hơn các khái niệm được thể hiện) đi vào sự tồn tại bên ngoài trên cõi trần qua quyền năng của lời được nói ra, và cũng hãy xem xét cẩn thận ý nghĩa huyền bí nằm bên dưới mọi cuộc hội nghị, mọi cuộc hội họp, mọi cuộc hội đàm, và mọi cuộc thảo luận vốn có liên quan đến việc tung ra một ý tưởng nào đó hay tập hợp các ý tưởng nào đó trên biển nhu cầu của quần chúng. Có phải là điều đó không thể nào có thể xảy ra, đó là theo các cách hoạt động được sử dụng bởi các cơ quan quảng cáo và sự đào tạo liên tục được dành cho các nhân viên bán hàng trong việc sử dụng lời nói như một phương tiện tiếp cận với công chúng để bán một ý tưởng, chúng ta sẽ tìm thấy các chỉ dẫn lệch lạc đầu tiên về các phóng phát ra những cụm từ thần bí vốn sẽ tạo ra sự sáng tạo của linh hồn trong mọi lĩnh vực của doanh nghiệp sáng tạo hay chăng?
It is obvious that already the nature of speech in relation to embodied ideas is being somewhat understood. Study the method of talk which is now the main factor employed to “launch an idea.” Note how all inventions (which are neither more nor less than embodied concepts) come into exoteric being on the physical plane through the power of the spoken word, and consider also with care the occult significance underlying all conferences, all meetings, all consultations, and all discussions which concern themselves with the launching of some idea or set of ideas upon the sea of public necessity. May it not be possible that under the modes of activity employed by the advertising agencies and the constant training given to salesmen in the use of the spoken word as a means of approach to the public in order to sell an idea, we shall find the first distorted indications of the emanations of those mystic phrases which will bring into being the creation of the soul in all fields of creative enterprise?
Việc huấn luyện dư luận quần chúng, việc sử dụng các lời lẽ mưu mẹo và các khẩu hiệu, xu hướng thể hiện các khái niệm của những người vận động trong các cụm từ lặp đi lặp lại và đúng lúc, là một phần của sự nhận thức đang phát triển về công tác huyền thuật. Tất cả những phương tiện này được sử dụng một cách mù quáng và không có sự nhận thức đúng đắn nào; chúng cấu thành một phần của các hoạt động đang xuất hiện của một nhân loại vốn đang ở ngưỡng của công tác sáng tạo thực sự,
The training of public opinion, the utilisation of catch words and slogans, the tendency to embody the concepts of campaigners in trite and apposite phrases are part of the growing realisation as to the magical work. All these means are employed blindly and without true realisation; they constitute a part of the emerging activities of a humanity which is on the verge of real creative work,
