hiện có một nhân loại trong mối quan hệ mật thiết, mặc dù không nhất quán, và một nhân loại được đặc trưng bởi ba điều:
now have a humanity in close relation, though not at-one, and a humanity characterised by three things:
1. Một mối tương quan và sự tương giao đáng kinh ngạc, mà đài phát thanh, báo chí, sự vận chuyển hiện đại, điện thoại và điện báo là những người phục vụ cho chúng.
1. An amazing interrelation and intercommunication, of which the radio, the press, modern transportation, and the telephone and telegraph are the servants.
2. Một sự nghiệp từ thiện rộng khắp, và sự tăng trưởng ý thức trách nhiệm đối với huynh đệ mình, những điều này vốn hoàn toàn không được biết trong năm 1500. Các phong trào như Hội Chữ Thập Đỏ, các cơ sở giáo dục, các bệnh viện, và các biện pháp cứu trợ kinh tế hiện nay có ở mọi quốc gia là các biểu hiện bên ngoài của nó.
2. A wide-spread philanthropic enterprise, and the growth of the sense of responsibility for one's brother, which was totally unknown in the year 1500. Movements such as the Red Cross, educational foundations, hospitals, and the present economic relief measures to be found in every country are its exoteric manifestations.
3. Một sự phân chia của toàn bộ gia đình nhân loại, một cách hữu thức hoặc vô thức, thành hai nhóm cơ bản: thứ nhất, những người tiêu biểu cho trật tự cũ của các sự việc, họ có tính phản động và chia rẽ. Họ đại diện cho chủ nghĩa quốc gia chia rẽ, các ranh giới, tình trạng nô lệ, sự tuân phục mù quáng; họ là điển hình cho chủ nghĩa bè phái tôn giáo và sự phụ thuộc vào uy quyền. Họ chống lại mọi sự cách tân và tiến bộ hiện đại. Thứ hai, những người vốn hình dung một thế giới thống nhất, trong đó lòng bác ái của Thượng Đế có nghĩa là tình thương đối với người lân cận, và nơi mà các động cơ bên dưới mọi hoạt động tôn giáo, chính trị và giáo dục được đặc trưng bởi một ý thức thế giới và phúc lợi của toàn thể cơ cấu chứ không phải của bộ phận nào cả.
3. A division of the entire human family, consciously or unconsciously, into two basic groups: first, those who stand for the old order of things, who are reactionary, and separative. They represent separative nationalism, boundaries, servitude, and servile obedience; they exemplify religious sectarianism and dependence upon authority. They are against all modern innovations and progress. Secondly, those who vision a unified world wherein love of God means love of one's neighbour, and where the motives underlying all religious, political and educational activities are characterised by a world consciousness and the welfare of the entire body and not of the part.
Sự thống nhất mà những người đang mong mỏi khao khát không bao hàm việc xao lảng bất kỳ bộ phận nào, mà nó bao hàm sự lo lắng và chăm sóc từng bộ phận một để nó có thể đóng góp vào sự thịnh vượng của toàn bộ tổ chức. Chẳng hạn như nó bao hàm chính quyền chân chính và sự phát triển thích hợp của mỗi đơn vị quốc gia, sao cho nó có thể thực hiện thỏa đáng các nghĩa vụ quốc tế của nó, và như vậy tạo thành một phần của một tình huynh đệ thế giới của các quốc gia.
The unification to which the forward looking people aspire does not involve the neglect of any part, but it does involve the care and nurture of each part in order that it may contribute to the well being of the entire organism. It involves, for instance, the right government and proper development of every national unit so that it can adequately perform its international duties, and thus form part of a world brotherhood of nations.
