Các Ngài đã lưu ý những điều này và Các Ngài đã tìm cách chuẩn bị con người cho thời kỳ đó vốn sẽ xấp xỉ 2500 năm, và nếu được vận dụng đúng, có thể mang lại sự thống nhất, một cách hữu thức và sáng suốt, của nhân loại, và nhờ đó tạo ra sự biểu lộ của điều mà Tôi thích gọi là “tình huynh đệ có tính khoa học” hơn, ngược lại với hàm ý đầy tình cảm của thuật ngữ rất thịnh hành hiện nay này.
They noted and They sought to prepare man for that period which would approximate 2500 years, and which could if duly utilised, bring about the unification, consciously and intelligently, of mankind, and so produce the manifestation of what I prefer to call “scientific brotherhood” in contradistinction to the sentimental connotation of the term now so prevalent.
Hình như đối với các Ngài vào thời đó, có hai việc cần phải làm trước khi các uy lực sắp đến của Kỷ Nguyên Bảo Bình (Aquarian Age) – có thể được vận dụng thuận lợi. Trước hết, nhân loại phải cho tâm thức của họ được nâng lên đến cõi trí; tâm thức đó phải được mở rộng để cho nó bao gồm không chỉ thế giới tình cảm và cảm giác mà còn cả thế giới trí tuệ nữa. Thể trí của con người phải được làm cho linh hoạt ở mức độ rộng lớn và tổng quát, và toàn bộ trình độ thông minh của con người phải được nâng lên. Thứ hai, cần phải làm một cái gì đó để phá vỡ những rào cản của sự chia rẽ, của sự cô lập và của thành kiến, vốn đang giữ con người xa cách nhau, và đó là điều mà Các Đấng Cao Cả đã biết trước là nó sẽ ngày càng như thế. Hết chu kỳ này đến chu kỳ khác, con người đang trở nên ngày càng được bao phủ trong bản ngã riêng của họ – sự thỏa mãn và tính độc chiếm, và sự hãnh diện về chủng tộc. Kết quả của điều này tất nhiên sẽ dẫn đến những sự phân cấp rộng lớn và việc dựng lên các rào cản trên thế giới giữa quốc gia này với quốc gia khác, và giữa chủng tộc này với chủng tộc khác.
It appeared to Them at that time that it would be necessary to do two things before the coming potencies of the Aquarian age could profitably be employed. First of all, humanity must have its consciousness elevated to the mental plane; it must be expanded so that it included not only the world of emotion and of feeling but also that of the intellect. The minds of men must be made widely and generally active, and the entire level of human intelligence must be raised. It was necessary, secondly, that something should be done to break down the barriers of separateness, of isolation and of prejudice which were keeping men apart from each other and which They foresaw would increasingly do so. Cycle by cycle, men were becoming more and more wrapped up in their own selves—satisfaction and exclusiveness, and racial pride. The result of this would lead inevitably to wide cleavages and the erection of world barriers between nation and nation, and between race and race.
Quyết nghị này của các thành viên của Thánh Đoàn nhằm để rèn luyện thể trí của con người nhanh nhẹn hơn, và để xây dựng hướng tới một sự thống nhất tổng hợp hơn, đã đưa các Ngài đến một quyết định, nó bao hàm việc thành lập các đơn vị tập thể, và đưa tới sự xuất hiện của những nhóm các phụng sự viên và các nhà tư tưởng, những người mà qua hoạt động của họ, họ đã, trên một quy mô rất lớn, chi phối và nắn tạo thế giới chúng ta trong ba hoặc bốn thế kỷ qua. Do đó chúng ta có, xác định thời điểm từ hội nghị này, sự mở màn của những nhóm xác định và đặc biệt, hoạt động theo các đường lối được xác định rõ ràng, với mỗi nhóm tượng trưng
This determination of the members of the Hierarchy to train the minds of men more rapidly and to build towards a more synthetic unity brought them to a decision which involved the formation of group units, and brought about the emergence of those groups of workers and thinkers who, through their activities, have so largely governed and moulded our world for the past three or four centuries. We have therefore, dating from this conclave, the inauguration of definite and specific group work along clearly defined lines, with each group standing
