và các kinh điển bất đồng, hoặc lời lẽ của họ ít hoặc nhiều. Họ nhìn thấy thành viên trong nhóm của họ trong mọi lĩnh vực – về chính trị, khoa học, tôn giáo, và kinh tế − và đưa ra cho họ dấu hiệu nhận biết và bàn tay của một huynh-hữu. Họ cũng nhận ra các Đấng Cao Cả vốn đã vượt qua trước họ trên nấc thang tiến hóa và chào mừng các Ngài, các Bậc Thầy, và tìm cách học hỏi từ các Ngài những gì mà các Ngài rất nhiệt tình để truyền đạt.
and scriptures vary, or their words are few or many. They see their group members in all fields—political, scientific, religious, and economic—and give to them the sign of recognition and the hand of a brother. They recognise likewise Those who have passed ahead of them upon the ladder of evolution and hail Them Teacher, and seek to learn from Them that which They are so eager to impart.
Nhóm này là một sản phẩm của quá khứ và Tôi sẽ bàn đến quá khứ đó; Tôi cũng sẽ nêu ra tình hình hiện nay và tiên đoán phần nào các đường lối chung, mà sự kết hợp của chúng và công việc tương lai sẽ tiến hành theo đó. Sự kiện về một nhóm như thế đang hình thành là xác thực, và chứa đựng một dấu hiệu tốt cho các thập niên sắp tới. Theo các cách thức lặng lẽ và tế nhị, chúng đã làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận, nhưng ảnh hưởng của chúng cho đến nay chủ yếu là một ảnh hưởng ở bên trong (subjective).
This group is a product of the past and upon that past I will touch; I will also indicate the present situation and forecast somewhat the general lines along which their association and future work will run. That such a group is forming is true and holds a good augury for the coming decades. In quiet and subtle ways they are already making their presence felt but theirs is as yet primarily a subjective influence.
Chúng ta hãy bắt đầu với quá khứ. Khoảng năm 1400, Thánh Đoàn các Chân Sư đã bị đối mặt với một tình huống khó khăn. Trong chừng mực mà công việc của cung 2 có liên quan (vốn liên quan với việc phổ biến chân lý tinh thần), đã đến lúc phải có những gì mà Tôi có thể gọi là một sự thể hiện ra bên ngoài (exteriorisation) đầy đủ của chân lý đó. Hoạt động của cung 1 cũng đã mang lại một sự phân hóa mãnh liệt và sự kết tinh giữa các quốc gia và các chính phủ trên thế giới. Hai tình trạng của tính chính thống (orthodoxy) cụ thể này và các dị biệt về chính trị kéo dài trong nhiều thế hệ, và vẫn đang thể hiện. Ngày nay, chúng ta có một tình trạng tương tự cả trong giới tôn giáo lẫn trong giới chính trị. Điều này là đúng cho dù người ta đang xem xét Ấn Độ hoặc Châu Mỹ, Trung Quốc hoặc Đức, hoặc cho dù người ta đang nghiên cứu lịch sử của Phật giáo với nhiều chi phái của nó, đạo Tin lành với vô số nhóm hiếu chiến của nó, hoặc nhiều trường phái triết học ở phương Đông hay phương Tây. Tình hình lan rộng, và ý thức quần chúng thì rất đa dạng, nhưng tình trạng này của các sự việc đánh dấu sự tổng kết
Let us begin with the past. About the year 1400, the Hierarchy of Masters was faced with a difficult situation. As far as the work of the second ray was concerned (which had to do with the impartation of spiritual truth) there had come to be what I might call a complete exteriorisation of that truth. The activity of the first ray had also brought about an intense differentiation and crystallisation among the nations and governments of the world. These two conditions of concrete orthodoxy and political differences persisted for many generations and are still manifesting. Today we have a similar condition both in the world of religion and in that of politics. This is true whether one is considering India or America, China or Germany, or whether one is studying the history of Buddhism with its many sects, Protestantism with its myriads of warring groups, or the many schools of philosophy in the orient or the occident. The condition is widespread, and the public consciousness tremendously diversified, but this state of affairs marks the summation
