trong hình tư tưởng sẽ gợi ra sự đáp ứng từ các hình tư tưởng khác hoặc là từ các thể trí mà nó có thể tiếp xúc.
in the thought form will call forth response from other thought forms or from the minds it may contact.
Khi cả ba mục tiêu này đã được đạt tới, sự sống của chính hình tư tưởng bây giờ mạnh đến nỗi nó có thể theo đuổi chu kỳ sống nhỏ bé của riêng nó và làm tròn nhiệm vụ của nó, chỉ được liên kết với kẻ sáng tạo ra nó bằng một sợi dây nhỏ có chất liệu tỏa sáng, vốn là một tương ứng với sutratma. Mọi hình tư tưởng đều có một sutratma (sinh mệnh tuyến) như thế. Nó nối liền các thể của một người với Chủ Thể bên trong, hoặc là với dòng từ lực, phát ra từ Chủ Thể thực sự, tức Thái Dương Thượng Đế, dòng từ lực này nối liền Đấng Sáng Tạo của thái dương hệ với hình tư tưởng vĩ đại của Ngài bằng một dòng năng lượng từ Mặt Trời Tinh Thần trung ương với một điểm trong tâm của Mặt Trời vật chất.
When these three objectives have been reached, the life of the form itself is now so strong that it can pursue its own little life cycle and fulfil its work, being only linked to its creator by a tiny thread of radiant substance, which is a correspondence to the sutratma. All forms have such a sutratma. It links a man's bodies to the inner Identity, or to that magnetic current which, emanating from the true Identity, the solar Logos, connects the Creator of the solar system with His great thought form by a stream of energy from the central Spiritual Sun to a point in the centre of the physical Sun.
Bao lâu mà sự chú ý của kẻ sáng tạo về bất cứ hình tư tưởng nào, lớn hoặc nhỏ, được hướng về phía nó, khoen nối từ điện đó còn tồn tại, hình tư tưởng được cấp sinh lực và công việc của nó vẫn trôi chảy. Khi công việc được hoàn thành, và hình tư tưởng đã đáp ứng được mục đích của nó, mọi tác nhân sáng tạo, dù cố ý hoặc vô tâm, chuyển sự chú ý của mình ra nơi khác, hình tư tưởng của y liền tan rã.
As long as the attention of the creator of any thought form, great or small, is turned towards it, that magnetic link persists, the thought form is vitalised, and its work carried on. When the work has been accomplished, and the thought-form has served its purpose, every creator, consciously or unconsciously, turns his attention elsewhere, and his thought form disintegrates.
Vì thế, ý nghĩa huyền linh của mọi tiến trình có liên quan đến huyền học ở trong tầm nhìn, có thể được nhìn thấy. Bao giờ mà con mắt của Đấng Sáng Tạo còn đặt vào những gì được tạo ra, thì chừng đó nó còn tồn tại; nếu Đấng Sáng Tạo rút lại “ánh sáng tán thành của Ngài” thì cái chết của hình tư tưởng tiếp theo sau, vì sinh lực hoặc năng lượng đi theo con đường của mắt. Do đó, khi một người trong khi thiền định, xem xét công việc của mình và tạo ra hình tư tưởng của mình để phụng sự, thì về mặt huyền linh, y đang nhìn xem và tất nhiên là mang lại năng lượng; y bắt đầu vận dụng mắt thứ ba ở khía cạnh phụ của nó. Đệ tam nhãn hay là nhãn quang tâm linh có nhiều chức năng. Trong số các chức năng khác, đó là cơ quan soi sáng, con mắt không bị che lấp của linh hồn, nhờ đó ánh sáng và sự giác ngộ đi đến thể trí, và thế là toàn bộ sự sống thấp kém trở nên được rọi chiếu. Đó cũng là cơ quan mà năng lượng có chỉ đạo (directing energy)
Hence the occult significance of all the processes occultly involved in sight, can be seen. As long as the eye of the Creator is upon that which is created, just so long does it persist; let the Creator withdraw “the light of his countenance” and the death of the thought form ensues, for vitality or energy follows the line of the eye. When, therefore, a man, in meditation, considers his work and builds his thought form for service, he is occultly looking, and consequently energising; he begins to use the third eye in its secondary aspect. The third or spiritual eye has several functions. Amongst others, it is the organ of illumination, the unveiled eye of the soul, through which light and illumination comes into the mind, and thus the entire lower life becomes irradiated. It is also the organ through which pours the directing energy
