User Tools

Site Tools


books:24books:a_treatise_on_cosmic_fire:tcf_879


khi nghĩ đến các Pitris, y phải luôn nghĩ dưới dạng nhóm. Các Pitris vốn tạo thành thể Chân Ngã của một người thì không – đơn độc và biệt lập – tạo thành các Hành Tinh Thượng Đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương có liên quan trong công việc vĩ đại này là các nhóm đã được nói đến, và chúng trở thành 49 Hành Tinh Thượng Đế liên quan với bảy thái dương hệ. Nơi chúng có ẩn giấu bí nhiệm của 3 trở thành 16 – được kết hợp hoặc được tổng hợp bởi cái thứ 17 – một sự tương ứng trên các mức độ vũ trụ của 7 với cõi thứ 8 (eighth sphere). Thực ra, điều này vẫn là một bí nhiệm không thể giải thích được đối với con người vào lúc này.

in thinking of the Pitris, he must ever think in group terms. The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi. The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. In them is hid the mystery of the three who become the sixteen—united or synthesised by the seventeenth—a correspondence upon cosmic levels of the seven with the eighth sphere. This must remain practically an insoluble mystery to man at present.

Bốn nhóm đã tìm thấy con đường của chúng đi tới Tâm (Heart) của thái dương hệ sẽ tái xuất hiện dưới hình thức 4 Hành Tinh Thượng Đế, vốn là 28, và như thế tạo ra triển vọng của số mười hoàn thiện trong một loạt thái dương hệ biểu lộ khác.

The four groups who found their way to the Heart of the system will reappear as the four planetary Logoi who are the twenty-eight and who thus produce the possibility of the ten of perfection in another series of manifesting systems.

Bảy loại năng lượng thái dương tìm thấy “con đường trở về” tới cội nguồn xuất phát trung tâm của chúng; bằng sự phá vỡ sự trói buộc giữa chúng với các Thái Âm Thiên Thần (mà về mặt nội môn, các vị này được nói đến như “đã chết hay đang hấp hối trên bãi chiến trường”), sự đại hy sinh được hoàn tất, và họ được tự do trở về trong chiến thắng.

The seven types of solar energy find the “path of return” to their central emanating source; by the disruption of the tie between them and the lunar lords (who are esoterically spoken of as “dead or dying on the field of battle”) the great sacrifice is consummated, and they are free to return in triumph.

Ý nghĩa huyền linh của các lời này liên quan với năng lượng đứng đàng sau và đang tác động qua mọi sắc tướng (appearance) có thể được diễn tả như sau:

The occult significance of these words in connection with the energy standing behind and working through all appearance might be expressed as follows:

Tri thức (Knowledge) (cclxxviii) là việc nhận thức đúng về các định luật năng lượng, về định luật bảo toàn lực, về các cội nguồn của

Knowledge (cclxxviii) is the right apprehension of the laws of energy, of the conservation of force, of the sources of


(cclxxviii):

1. Có 7 nhánh tri thức được nhắc đến trong kinh Puranas.

GLBN I, 192.

2. Phái Ngộ Đạo (Gnosis), tức Tri Thức còn ẩn giấu (hidden knowledge), là Nguyên Lý thứ bảy, sáu trường phái Triết Lý Ấn Độ là sáu nguyên lý. GLBN I, 299.

Sáu trường phái này là:

a. Trường phái Luận Lý (Logic) … Bằng chứng của nhận thức đúng.

b. Trường phái nguyên tử (atomic school) … Hệ thống của các đặc thù. Các yếu tố. Thuật luyện đan và hóa học.

c. Trường phái Số Luận (Sankhya) … Hệ thống các số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái vật chất hay prakriti.

d. Trường phái Yoga … Sự hợp nhất. Qui luật của đời sống hằng ngày. Thuyết thần bí.

e. Trường phái Tôn giáo nghi lễ … Nghi thức. Thờ chư thần hay Gods.

f. Trường phái Vedanta … Có liên quan tới phi-nhị-nguyên (non-duality). Bàn đến mối quan hệ của Atman trong con người với Thượng Đế.

3. Có 4 nhánh tri thức mà H.P.B. đặc biệt nhắc đến. GLBN I, 192.

Bốn nhánh này có lẽ là các nhánh mà có lẽ con người đã bàn đến nhiều nhất trong cuộc tuần hoàn thứ tư và dãy thứ tư này. So sánh GLBN I, 70, 95.

Tứ Diệu Đế. Bốn kinh Vedas. Bốn Phúc Âm. Bốn sự chuẩn nhận căn bản. Bốn yếu tố sẵn sàng. Bốn cấp bậc Điểm Đạo.

a. Yajna Vidya. (Minh Triết nghi lễ) … Cách cử hành nghi thức tôn giáo để tạo ra một số kết quả. Nghi lễ phép thuật. Nó có liên quan với Âm Thanh, do đó liên quan với Akasha hay là dĩ thái của không gian. “Yajna” là Thượng Đế vô hình (invisible Deity), Đấng tràn ngập khắp không gian.

Có lẽ minh triết này liên quan đến cõi trần chăng?

b. Mahavidya (Đại minh triết pháp thuật) … Tri thức vĩ đại về pháp thuật. Nó thoái hóa thành việc thờ cúng của Tantrika (Mật Tông). Liên quan với trạng thái nữ, hay trạng thái vật chất (mẹ). Nền tảng của hắc thuật. Mahayoga chân chính có liên quan với sắc tướng (trạng thái thứ hai), và sự thích nghi với Tinh Thần và các nhu cầu của nó.

Có lẽ minh triết này liên quan đến cõi cảm dục chăng ?

c. Guyha vidya (Minh triết thần chú)… Khoa học về các thần chú. Tri thức bí mật về các thần chú huyền bí. Uy lực huyền linh của âm thanh, của Linh Từ.

Có lẽ minh triết này liên quan với cõi trí chăng ?

d. Atma vidya… Minh triết tinh thần đích thực.

4. Tri thức về chân lý là một quyền thừa kế chung − GLBN, II, 47, 3.

5. Tri thức là một đề tài tương đối và thay đổi tùy theo trình độ đạt được.

a. Các phạm vi tri thức thêm nữa mở ra trước một Hành Tinh Thượng Đế. GLBN II, 740.

b. Bốn chân lý có thể được đạt tới bởi người không được sự trợ giúp nào. GLBN III, 420.

6. Sau cùng, Tri Thức là một vũ khí nguy hiểm:

Điều này do bởi: Sự Ích Kỷ Cá Nhân.

Nó chỉ an toàn khi:

a. Con người từ bỏ bản thân cho nó, xác thân, linh hồn và tinh thần. GLBN III, 62.

b. Con người có một niềm tin kiên định vào thiên tính của chính mình. GLBN III, 62.

c. Con người nhận thức Nguyên Khí bất tử của chính y.

d. Con người tự biết y. GLBN III, 435, 436.

e. Mọi đức hạnh đều được thực hành. GLBN III, 262.

f. Con người có kinh nghiệm. GLBN III, 481

g. Con người nhận ra tri thức là kết quả của chỉ một mình Tinh Thần. GLBN III, 453.

h. Tri thức có được nhờ vùng của thượng trí. GLBN III, 453.

(cclxxviii):

: 1. There are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas:—S. D., I, 192.
2. The Gnosis, the hidden Knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles.—S. D., I, 299.
These six schools are:

a. The school of Logic Proof of right perception.

b. The atomic school System of particulars. Elements. Alchemy and chemistry.

c. The Sankhya school System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti.

d. The school of Yoga Union. The rule of daily life. Mysticism.

e. The school of

Ceremonial Religion Ritual. Worship of the devas or Gods.

f. The Vedanta school Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atman in man to the Logos.

3. There are four branches of knowledge to which H. P. B. specially refers—S.D., I, 192. These four are probably those with which man has dealt the most, in this fourth round and fourth chain. Compare S. D., I, 70, 95, 107, 227.
The four Noble Truths. The four Vedas. The four Gospels. The four basic admissions. The four ready Elements. The four grades of Initiation.

a. Yajna Vidya The performance of religious rites in order to produce certain results. Ceremonial magic. It is concerned with Sound, therefore with the Akasha or the ether of space. The “yajna” is the invisible Deity who pervades space.

Perhaps this concerns the physical plane?

b. Mahavidya The great magic knowledge. It has degenerated into Tantrika worship. Deals with the feminine aspect, or the matter (mother) aspect. The basis of black magic. True mahayoga has to do with the form (second aspect) and its adaptation to Spirit and its needs.

Perhaps this concerns the astral plane?

c. Guyha vidya The science of mantrams. The secret knowledge of mystic mantrams. The occult potency of sound, of the Word.

Perhaps this concerns the mental plane?

d. Atma vidya True spiritual wisdom.

4. Knowledge of truth is a common inheritance.—S. D., II, 47, 3.
5. Knowledge is a relative subject, and varies according to the grade achieved.

a. Ranges of further knowledge open up before a planetary Logos.—S. D., II, 740.

b. The four truths can be arrived at by unaided man.—S. D., III, 420.

6. Finally, Knowledge is a dangerous weapon:
This is due to: Personal Selfishness.
It is only safe when:

a. One gives oneself up to it, body, soul and spirit.—S. D., III, 62, 63.

b. One has an unshakeable belief in one's own divinity.—S. D., III, 62, 63.

c. One recognises one's own immortal Principle.

d. One knows oneself:—S. D., III, 435, 436.

e. All the virtues are practised.—S. D., III, 262.

f. One has experience.—S. D., III, 481.

g. One realises knowledge is the fruit of Spirit alone.—S. D., III, 453.

h. Knowledge is acquired through the region of the higher mind.—S. D., III, 453.

books/24books/a_treatise_on_cosmic_fire/tcf_879.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki