vì ba thể chính được phân bổ trong nhiều thể (bodies) thứ yếu.
for the three main bodies are distributed among many lesser.
6. Giai đoạn Rắn Đặc (The Solid). Đây là giai đoạn cuối cùng trong việc kiến tạo hình hài thực tế, và báo hiệu lúc mà công việc tập hợp và tạo hình vật chất được làm xong. Phần lớn công việc của các Thái Âm Thiên Thần giờ đây trở nên hoàn tất. Thuật ngữ “rắn đặc” (“solid”) không chỉ đề cập đến sự biểu lộ ngoại cảnh thấp nhất, vì một thể rắn đặc có thể giống như dĩ thái (ethereal), và chỉ giai đoạn tiến hóa của thực thể có liên quan mới sẽ tiết lộ ý nghĩa tương đối của nó.
6. The Solid. This marks the final stage in actual form building, and signifies the moment wherein the work is done as regards the aggregating and shaping of substance. The greater part of the work of the lunar Pitris stands now accomplished. The word “solid” refers not solely to the lowest objective manifestation, for a solid form may be ethereal, and only the stage of evolution of the entity involved will reveal its relative significance.
Tất cả những gì đã được đưa ra ở đây về các giai đoạn tiệm tiến của việc kiến tạo hình hài trên mỗi cõi đều đúng đối với mọi hình hài trong mọi thái dương hệ và hành tinh hệ, và cũng đúng đối với mọi việc kiến tạo hình tư tưởng. Con người đang luôn luôn tạo ra hình tư tưởng, và đang theo đuổi một cách vô thức cùng phương pháp như Ego của y theo đuổi trong việc tạo ra các thể của y, giống như Thượng Đế theo đuổi khi tạo lập thái dương hệ của Ngài, và giống như một Hành Tinh Thượng Đế vận dụng trong việc kiến tạo hành tinh hệ của Ngài.
All that has been here laid down as to the progressive stages of form construction on every plane is true of all forms in all systems and schemes, and is true of all thought-form building. Man is constructing thoughtforms all the time, and is following unconsciously the same method as his Ego pursues in building his bodies, as the Logos follows in building His system, and as a planetary Logos uses in constructing His scheme.
Khi một người nói chuyện, và kết quả là tạo ra một mantram rất đa dạng. Năng lượng được sinh ra như thế cuốn vào hoạt động hằng hà sa số các sinh linh nhỏ bé, chúng tiến hành tạo ra một hình hài cho tư tưởng của y; chúng theo đuổi các giai đoạn tương tự với các giai đoạn vừa được vạch ra. Lúc đó, con người tạo ra các rung động do mantram này, một cách vô tình và thiếu hiểu biết về các định luật về âm thanh và về hiệu quả của chúng. Như vậy y đang tiến hành một việc huyền bí mà y không hề biết. Về sau y sẽ nói ít lại, hiểu biết nhiều hơn, và tạo các hình tư tưởng chính xác hơn, chúng sẽ tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ trên các cõi vật chất. Như thế sau rốt, trong các chu kỳ xa xăm, thế gian sẽ được “cứu độ” (“saved”) chớ không chỉ có đây đó một đơn vị.
A man speaks, and a very diversified mantram is the result. The energy thus generated swings into activity a multitude of little lives which proceed to build a form for his thought; they pursue analogous stages to those just outlined. At this time, man sets up these mantric vibrations unconsciously, and in ignorance of the laws of sound and of their effect. The occult work that he is carrying on is thus unknown to him. Later he will speak less, know more, and construct more accurate forms, which will produce powerful effects on physical levels. Thus eventually in distant cycles will the world be “saved,” and not just a unit here and there.
Về việc kiến tạo các thể thấp (sheaths) của con người, một vài điểm lý thú của việc biểu lộ xảy ra có thể được bàn đến bây giờ, để lại cho môn sinh giải đáp các tương ứng liên quan với thái dương hệ và hành tinh, và chỉ đưa ra các chỉ dẫn khái quát vốn có thể hữu ích cho y khi kết luận.
In connection with this building of man's sheaths certain interesting points of manifestation occur which might be dealt with now, leaving the student to work out the correspondences in relation to the system and the planet, and giving only general indications which may be of use to him in his conclusions.
