Thượng Đế và mọi hình tướng trong cơ thể Ngài.
The Logos and all forms within His body.
Các Hành Tinh Thượng Đế và tất cả các hình tướng trong cơ thể các Ngài.
The planetary Logoi and all forms within Their bodies.
Con người và mọi hình tướng bên trong cơ thể y.
Man and all forms within his body.
Những gì phải được nhấn mạnh là quan niệm ít được nhận thức rằng sự xác tín “Tôi hiện hữu” phân biệt không chỉ con người, mà cũng là linh từ đang duy trì sự toàn vẹn của tất cả các nhóm. Khi con người có thể thốt ra “Tôi là Chân Ngã”, y bắt đầu cảm nhận được tính thống nhất của y với nhóm của y. Khi các nhóm tạo nên một sự xác tín tương tự, họ đang bắt đầu nhận thức tính đồng nhất của họ với tất cả các nhóm khác. Khi một Hành Tinh Thượng Đế phát ra linh từ “I am That”, thì Ngài đang tiến đến thời điểm tổng hợp hay hấp thu. Khi một Thái Dương Thượng Đế phát ra các từ này, thì 1 năm của Brahma sẽ đang đi đến kết thúc và thời điểm hợp nhất hữu thức với nhóm lớn hơn của Ngài đang đến gần. Đại khái (liên quan tới con người) có thể nói rằng :
That which must be emphasised is the little realised concept that this assertion of “I am” distinguishes not only man, but is the mantric word which preserves the integrity of all groups likewise. When man can say “I am That” he is beginning to sense his oneness with his group. When groups make a similar assertion they are beginning to realise their identity with all other groups. When a planetary Logos echoes the words “I am That” He is approaching the hour of synthesis, or of absorption. When a solar Logos utters the words, a year of Brahma will be drawing to a close, and the hour of conscious merging with His greater group will be approaching. Broadly (in relation to man) it might be stated that:
“Tôi hiện hữu” (“I am”) liên quan tới phàm ngã thức trên ba cõi thấp, hay tới tất cả những gì được xem như thấp hơn thể nguyên nhân. Nó liên quan đến sự nhận thức của một người về vị trí của y trên một bầu hành tinh trong một dãy hành tinh.
“I am” refers to the personality consciousness on three lower planes, or to all that is considered as inferior to the causal body. It concerns a man's realisation of his place upon the globe within a chain.
“Tôi là Chân Ngã” (“I am That”) liên quan với chân ngã thức, và với các cõi của Tam Thượng Thể. Nó liên quan với sự nhận thức của một người về vị trí của y trong dãy hành tinh, và mối liên hệ của y đối với nhóm mà y hợp thành một phần.
“I am That” refers to his egoic consciousness, and to the planes of the Triad. It concerns a man's realisation of his place within the chain, and his relationship to the group of which he forms a part.
“Tôi là Chân Thần” (“I am That I am”) liên quan đến chân thần thức của một người, và sự liên quan của con người với các cõi ý niệm trừu tượng. Nó liên quan đến sự nhận thức của con người về vị trí của y trong hành tinh hệ.
“I am That I am” refers to a man's monadic consciousness, and his relationship to the planes of abstraction. It concerns his realisation of his position in the scheme.
Khi đỉểm đạo đồ có thể nói “Tôi là Chân Thần”, lúc bấy giờ y đã hợp nhất chính y với bản thể thiêng liêng của y, và được giải thoát khỏi hình tướng. Xác quyết huyền linh thứ nhất đánh dấu sự giải thoát (emancipation) của y ra khỏi ba giới thấp và
When the initiate can say “I am That I am,” then he has merged himself with his divine essence, and is freed from form. The first occult assertion marks his emancipation from the three lower kingdoms, and his conscious
