1. Ngã với Phi Ngã.
1. The Self and the Not-Self.
2. Tinh Thần với Vật Chất.
2. Spirit and Matter.
3. Các cõi với các cõi phụ.
3. The planes and the subplanes.
4. Các mức độ khác nhau của vật chất nguyên tử (atomic matter) trong Thái dương hệ.
4. The different grades of atomic matter in the system.
5. Các rung động do ý chí tạo ra, tác động qua bác ái-minh triết và đem lại năng lượng cho vật chất.
5. Vibrations, engendered by will, working through love-wisdom, and energising substance.
6. Tất cả những gì liên quan đến các hình hài của mọi loại, và trong mọi kiểu mẫu của sự sống thiết yếu.
6. All that concerns forms of every kind and in every type of essential existence.
Trong trường hợp thứ hai, nguyên khí Bồ đề có tính chất bác ái riêng biệt của nó, và thể hiện dưới hình thức minh triết hoạt động qua bác ái, và tạo ra :
In the second case, the buddhic principle has for its distinctive quality love, and demonstrates as wisdom working through love and producing:
1. Sự hợp nhất giữa mọi Bản ngã.
1. Unity between all Selves.
2. Sự cố kết tập thể (group coherence).
2. Group coherence.
3. Các tính chất theo đường lối rõ ràng của điều mà chúng ta gọi là bác ái.
3. Qualities that are distinctively along the line of what we call love.
4. Hoạt động có hiệu quả liên quan đến sự tiến hóa, hay các nguyên tắc cơ bản của công việc của Thánh Đoàn.
4. Effective work in connection with evolution, or the fundamentals of hierarchical work.
Trong trường hợp thứ ba, Tinh Thần vận dụng trạng thái ý chí hay atma (trong con người) vốn có lực cố kết, vì nét đặc trưng riêng biệt của nó, lực này giữ cho mục đích của thực thể luôn luôn ở trước mắt, thực hiện mục đích đó thông qua bác ái ở dạng bản thể.
In the third case the Spirit employs the will aspect or atma (in man), which has, for its distinctive feature, that coherent force which keeps the purpose of the entity ever in view, working it out through love in substantial form.
Tôi đã vạch ra các nét đặc biệt này, vì việc này dùng để mang phạm vi, và cũng như các giới hạn, của nguyên khí trí tuệ linh hoạt rõ ràng hơn phần nào tới trước môn sinh. Trong Phòng Vô Minh, khía cạnh tích lũy của manas và khả năng của nó để tích trữ và hoạch đắc kiến thức và thông tin đang được phát triển. Thí dụ, con người có được các sự kiện, và sự kiên trì, và thiết lập các rung động vốn phải được thực hiện một cách sáng suốt. Khía cạnh tiếp thu của nguyên khí này đang biểu lộ ra. Trong Phòng Học Tập, khía cạnh phân biện đang được phát triển, và con người không những chỉ học cách chọn lựa mà còn học cách loại bỏ, và y bắt đầu phối hợp hai cực lại một cách thông minh. Trong
I have pointed out these distinctions as it serves to bring the scope, and equally the limitations, of the active mental principle somewhat more clearly before the student. In the Hall of Ignorance the accumulative side of manas and its ability to store and acquire knowledge and information is being developed. A man, for instance, acquires facts, and application, and sets up vibrations which have to be worked out intelligently. The acquisitive side of this principle is showing forth. In the Hall of Learning the discriminative side is being developed, and the man learns not only to choose but to discard, and he begins to merge the two poles intelligently. In the
