1. Đối với những công dụng cơ khí,
1. For mechanical uses,
2. Đối với việc vận chuyển,
2. For transportation,
3. Đối với việc chiếu sáng,
3. For illumination,
4. Trong việc chữa trị,
4. In healing,
chỉ là sự thể hiện trên cõi hồng trần của việc sử dụng song song mãnh lực điện cõi bồ đề.
are but the working out on the physical plane of paralleling utilisation of buddhic electrical force.
Ở đây, cần nêu câu hỏi tại sao màu sắc được nói đến chủ yếu như là biểu hiện điện năng ở cõi bồ đề. Chúng ta đang dùng từ “màu sắc” (“colour”) ở đây theo ý nghĩa nguyên thủy và cơ bản của nó như là “cái đang che giấu”(“that which veils”). Màu sắc che đậy bảy biến phân của sự biểu lộ của Thượng Đế, và từ góc độ cái nhìn của con người trong ba cõi thấp, thì chỉ có thể được thấy theo ý nghĩa đầy đủ của nó trên cõi bồ đề. Tất cả lửa và sự biểu lộ của điện sẽ được thấy hiện thân cho 7 màu.
It might here be asked why colour primarily is spoken of as the buddhic manifestation of electricity. We are employing the word “colour” here in its original and basic sense as “that which veils.” Colour veils the sevenfold differentiation of logoic manifestation and, from the angle of vision of man in the three worlds, can be seen only in its full significance on the buddhic plane. All fire and electrical display will be seen to embody the seven colours.
Ngoài ra, một sự tương ứng khác giữa chất dĩ thái vũ trụ thứ 4 và dĩ thái hồng trần thứ 4, nằm ở sự kiện là cả hai lúc đầu đều có liên quan với công trình của các Đấng Đại Kiến Tạo, nên nhớ rằng các Ngài kiến tạo cơ thể thực sự của Thượng Đế trong chất dĩ thái; hiện thể vật chất trọng trược không phải là kết quả của công trình của các Ngài, vì nó là kết quả của sự gặp gỡ của 7 luồng thần lực hay điện, vốn tạo nên sự đông kết hiển nhiên trong chất liệu mà chúng ta gọi là các cõi vật chất trọng trược (3 cõi phụ thấp). Sau hết, sự đông kết (congestion) bề ngoài này chỉ là hoạt động điện tử quá mức, hay năng lượng của khối nguyên tử âm đang chờ đợi sự kích thích, vốn sẽ do sự hiện diện của một số nguyên tử dương nào đó. Điều này cần được ghi nhớ. Công trình tiến hóa được dựa trên 2 phương pháp và thể hiện dưới hình thức:
Again another correspondence between the fourth cosmic ether and the fourth physical ether lies in the fact that they are both primarily concerned with the work of the great builders, bearing in mind that they build the real body of the Logos in etheric matter; the dense physical vehicle is not so much the result of their work as it is the result of the meeting of the seven streams of force or electricity, which causes that apparent congestion in matter that we call the dense physical planes (the three lower subplanes). This apparent congestion is, after all, but the exceeding electronic activity or energy of the mass of negative atoms awaiting the stimulation that will result from the presence of a certain number of positive atoms. This needs to be borne in mind. The work of evolution is based on two methods and demonstrates as:
Tiến hóa hướng hạ, trong đó các âm điện tử của vật chất chiếm đa số. Tỷ lệ bách phân của các điện tử giống cái (feminine) này là một trong các bí mật của điểm đạo, và quá lớn trong giai đoạn tiến hóa hướng hạ, đến nỗi sự hiếm hoi của các
Involution, wherein the negative electrons of matter preponderate. The percentage of these feminine electrons is one of the secrets of initiation and is so vast during the involutionary stage that the rarity of the positive
