sự sống ở trung tâm. Trong việc xác định điều này, chúng ta đang xem xét con người thực ở địa vị căn bản của y là Chân Ngã, với phạm vi biểu lộ của y, thể nguyên nhân, − thể đó vốn tạo thành trung điểm giữa Tinh Thần với vật chất.
of life at the centre. In predicating this we are considering the true man in his fundamental position as the Ego, with his sphere of manifestation, the causal body,—that body which forms the middle point between Spirit and matter.
b. Con người chứa trong y các nguyên tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng, chúng tạo thành hình tướng khách quan của con người trên các cõi biểu lộ của y. Tất cả được làm cho linh hoạt bằng sự sống của y, bằng ý chí hiện tồn kiên trì của y; tất cả đều rung động theo với mức độ được đạt tới bằng sự tiến hoá của con người. Như được thấy từ trên các cõi cao, con người thể hiện như một khối cầu (hay các khối cầu) bằng vật chất đã biến phân, rung động đến một mức độ nào đó, được nhuộm bằng một màu sắc nào đó, và xoay quanh một âm điệu cố định (fixed key) – âm điệu của chu kỳ sống của y.
b. Aman contains within himself differentiated atoms, which in their totality make up the objective form of the man on the planes of his manifestation. All are animated by his life, by his persistent will-to-be; all vibrate according to the point reached by the man in evolution. As seen from the higher planes man demonstrates as a sphere (or spheres) of differentiated matter, vibrating to a certain measure, tinctured by a certain color, and rotating to a fixed key—the key of his life cycle.
c. Một người được phân biệt bởi sự hoạt động trên một hay nhiều cõi trong ba cõi thấp, và cho thấy các đặc tính của :
c. A man is distinguished by activity on one or more planes in the three worlds, and shows forth the qualities of:
1. Chuyển động quay hay sự xoay vòng đặc thù của y trên bánh xe sự sống, quanh cực chân ngã của y.
1. Rotary motion, or his particular cycling on the wheel of life, around his egoic pole.
2. Khả năng phân biện hay là năng lực lựa chọn và thu hoạch kinh nghiệm.
2. Discriminative capacity, or the power to choose and gain experience.
3. Khả năng tiến hoá, để gia tăng sự rung động và để thiết lập sự giao tiếp.
3. Ability to evolve, to increase vibration and to make contact.
d. Một người chứa trong y 3 nguyên khí chủ yếu: − ý chí, bác ái - minh triết, trí tuệ linh hoạt hay khả năng thích nghi – và biến phân của chúng thành 7 nguyên khí. Các nguyên khí này, vốn cuối cùng tạo thành 10 sự biểu lộ hoàn hảo, đang ở trong tiến trình tiếp sinh khí, nhưng chưa đạt đến mức phát triển đầy đủ. Chỉ có 4 nguyên khí trong con người là linh hoạt, và y đang ở trong tiến trình phát triển nguyên khí thứ năm hay nguyên khí trí tuệ. Hãy lưu ý đến sự tương đồng hoàn hảo như thế nào giữa con người, được xem như là tứ nguyên thấp đang phát triển nguyên khí trí tuệ, với nguyên tử có 4 loa tuyến linh hoạt của nó; còn loa tuyến thứ 5 đang ở trong tiến trình kích thích.
d. A man contains within himself three major principles,—will, love-wisdom, active intelligence or adaptability—and their differentiation into the seven principles. These, making the eventual ten of perfected manifestation, are in process of vitalisation, but have not yet attained full expression. Only four principles in man are active, and he is in process of developing the fifth, or manasic principle. Note how perfect is the analogy between man, viewed as the lower quaternary developing the principle of mind, and the atom with its four spirillae active; and the fifth in process of stimulation.
e. Con người bị chi phối bởi Định Luật Hút, được
e. A man is governed by the Law of Attraction, is
