c. Trên cõi trí, y bắt đầu tìm ra nốt của nhóm y.
c. On the mental plane he begins to find his group note.
d. Trên cõi Bồ đề hay cõi minh triết, y bắt đầu tìm thấy nốt của Hành Tinh Thượng Đế của y.
d. On the buddhic plane, or the plane of wisdom, he begins to find the note of his planetary Logos.
e. Trên cõi Niết bàn hay cõi Tinh Thần, nốt của Thượng Đế bắt đầu ngân lên bên trong tâm thức của y.
e. On the atmic, or spiritual, plane the note logoic begins to sound within his consciousness.
Tôi đang phân biệt như thế để cho rõ ràng. Trong bản thân sự tiến hoá, do trạng thái song song của bản chất, các điểm phân biệt không được rõ ràng như thế, và cung của một người, vị trí phát triển, công việc được thành toàn trước đó, các giới hạn tạm thời của y, và các nguyên nhân khác tạo ra sự rắc rối bề ngoài, nhưng trong đại hệ thống, khi được nhìn từ trên xuống, công việc diễn tiến như được mô tả.
I am differentiating thus for the sake of clarity. In evolution itself, due to the parallelism of nature, the distinctions are not so sharply made, and a man's ray, point of development, the work earlier accomplished, his temporary limitations, and other causes create a seeming confusion, but in the great scheme as seen from above downwards, the work proceeds as described.
Thính giác trên cõi cảm dục thường được gọi là nhĩ thông (clairaudience), và ám chỉ năng lực nghe được các âm thanh của cõi cảm dục. Đó là một khả năng biểu hiện khắp toàn bộ thể cảm dục, và một người nghe qua khắp cả hiện thể của y chứ không chỉ qua các cơ quan được chuyên hoá, tức là hai tai, là sản phẩm của sự tác động và sự phản tác động trên cõi trần. Điều này tất nhiên là như thế, nhờ bản chất lưu chuyển của thể cảm dục. Con người trên cõi trần nghe cùng lúc một phạm vi âm thanh nào đó, và chỉ có một chuỗi âm (gamut) nhỏ và đặc biệt của các rung động mới tác động vào tai y. Có nhiều âm thanh nhỏ bé hơn trong thiên nhiên hoàn toàn thoát khỏi y, trong khi các tập hợp âm thanh chủ yếu thì không được phân biệt chút nào. Khi sự tiến hoá tiếp tục, và giác quan bên trong của thính giác trở nên sắc sảo, các âm thanh khác này của cõi trần cũng sẽ chuyển vào trong phạm vi hiểu biết của con người, và y sẽ ý thức sâu sắc về mọi âm thanh trên cõi cảm dục và cõi trần – một việc, mà nếu lúc này có thể xảy ra, sẽ đưa đến việc phá vỡ cơ thể. Thí dụ, nếu nốt của thiên nhiên được tác động chỉ một lần thôi trên tai của một người (một nốt làm bằng toàn thể các rung động được sinh ra bởi tất cả các hình tướng vật chất trọng trược) thì thể xác của y sẽ bị phá vỡ hoàn toàn.
Hearing on the astral plane is commonly called clairaudience, and means the ability to hear the sounds of the astral plane. It is a faculty that demonstrates throughout the entire astral body, and a man hears all over his vehicle and not only through the specialised organs, the ears, the product of physical plane action and reaction. This would necessarily be so, owing to the fluidic nature of the astral body. Man on the physical plane hears at the same time a certain range of sounds, and only a small and particular gamut of vibrations impinges upon his ears. There are many of the lesser sounds of nature which entirely escape him, while the major group sounds are not differentiated at all. As evolution proceeds and the inner sense of hearing becomes acute, these other physical plane sounds will likewise swing into his ken, and he will be acutely conscious of all sounds on the astral, and the physical plane—a thing, which if possible now, would result in the shattering of the body. If the note of nature, for instance, were to strike but once upon the ear of a man (a note made up of the totality of vibrations produced by all dense material forms) his physical body would be completely disrupted.
