hay tập thể, và của Thượng Đế hay Tổng Thể) đến thời kỳ nhịp nhàng và ổn định mà trong thời gian đó điểm cân bằng được đạt đến. Do bởi lực cân bằng các cặp đối hợp và nhờ đó tạo ra sự thăng bằng, chu kỳ qui nguyên là trình tự tất phải xảy ra.
or group, and of the Logos or the Totality) comes a period of rhythm and of stabilisation wherein the point of balance is achieved. By the force of balancing the pairs of opposites, and thus producing equilibrium, pralaya is the inevitable sequence.
c. Bằng sự tách rời thể hồng trần ra khỏi thể tinh anh trên các nội giới, qua sự tan rã của mạng lưới. Điều này tạo nên một hiệu quả ba mặt:
c. By the severing of the physical from the subtler body on the inner planes, through the shattering of the web. This has a threefold effect:
Thứ nhất. Sự sống vốn đã làm linh hoạt hình tướng vật chất (cả chất đặc lẫn chất dĩ thái) và đã có điểm bắt đầu của nó trong nguyên tử thường tồn và từ đó “đã thâm nhập khắp vật thể di động và vật thể bất động” (trong Thái Dương Thượng Đế, Hành Tinh Thượng Đế, và con người, cũng như trong nguyên tử vật chất), được triệt thoái hoàn toàn vào trong nguyên tử trên cõi trừu xuất. 'Cõi trừu xuất' này là một cõi khác đối với các thực thể có liên quan:
First. The life that had animated the physical form (both dense and etheric) and which had its starting point in the permanent atom and from thence “pervaded the moving and the unmoving” (in God, the Heavenly Man, and the human being, as well as in the atom of matter) is withdrawn entirely within the atom upon the plane of abstraction. This “plane of abstraction” is a different one for the entities involved:
a. Đối với nguyên tử thường tồn hồng trần, đó là phân cảnh nguyên tử.
a. For the physical permanent atom, it is the atomic level.
b. Đối với con người, đó là thể nguyên nhân.
b. For man, it is the causal vehicle.
c. Đối với Hành Tinh Thượng Đế, đó là cõi thứ nhì của sự sống Chân Thần, trú sở của Ngài.
c. For the Heavenly Man, it is the second plane of monadic life, His habitat.
d. Đối với Thượng Đế, đó là cõi Tối Đại Niết Bàn (Adi).
d. For the Logos, it is the plane of Adi.
Tất cả các điều này đánh dấu các mức độ đối với việc biến mất của đơn vị vào chu kỳ qui nguyên. Ở đây chúng ta cần nhớ rằng đó luôn luôn là kỳ qui nguyên khi xem xét từ bên dưới. Từ linh thị cao, người ta thấy rằng chất tinh tế hơn liên tục phủ bóng chất trọng trược khi không ở trong sự biểu lộ khách quan, chu kỳ qui nguyên chỉ là tình trạng chủ quan (subjectivity), chứ không phải là “tình trạng không tồn tại” (“which is not”), mà chỉ là điều huyền bí (which is esoteric).
All these mark the points for the disappearance of the unit into pralaya. We need here to remember that it is always pralaya when viewed from below. From the higher vision, that sees the subtler continuously overshadowing the dense when not in objective manifestation, pralaya is simply subjectivity, and is not that “which is not,” but simply that which is esoteric.
Thứ hai: Thể dĩ thái của một người, một Hành Tinh Thượng Đế và một Thái Dương Thượng Đế, bị tan vỡ, trở nên không còn an trụ đối với chủ thể nội tâm của nó, và do đó cho phép sự thoát ra. Nó (diễn đạt điều đó theo cách khác) không còn là một nguồn thu hút, cũng không còn là một điểm tập trung từ lực. Nó trở thành không có từ lực, và định luật Hấp Dẫn vĩ đại ngừng
Second. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes non-polarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a focal magnetic point. It becomes non-magnetic, and the great Law of Attraction ceases to
